img

Hội An, Đà Nẵng, Thuận An, Nhật Lệ…, hàng loạt cửa biển miền Trung một thời vang bóng về việc giao thương hoặc cả giao tranh, giờ có nơi vẫn tiếp tục phát triển phồn vinh, có nơi chỉ còn lại vết tích thời gian.


Hội An từng là thương cảng sầm uất bậc nhất Đông Nam Á (ảnh tư liệu)

Hội An từng là thương cảng sầm uất bậc nhất Đông Nam Á (Ảnh tư liệu)


Thăng trầm cửa biển miền Trung- Ảnh 2.

Theo nhiều tài liệu, thương cảng Hội An hình thành khoảng thế kỷ XV-XVI, thịnh đạt trong thế kỷ XVII - XVIII. Trong thời thịnh vượng, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ XVII, thương cảng Hội An không chỉ là một trong những trung tâm giao thương lớn nhất Đàng Trong hay Đại Việt mà còn cả vùng biển Đông Nam Á.

Lúc ấy, tàu thuyền Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia, thậm chí cả Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… hằng năm cập bến Hội An mở hội chợ 4 - 6 tháng liền. Nhiều người Hoa, Nhật… đã được Chúa Nguyễn cho phép ở lại lập phố, mở cửa hàng buôn bán, được sống theo phong tục riêng. Vào thế kỷ XVII, Hội An đã có phố Nhật, phố Khách, có thương điếm Hà Lan…

Hội An từng là thương cảng sầm uất bậc nhất Đông Nam Á (ảnh tư liệu)

Mô hình Châu ấn thuyền do TP Nagasaki - Nhật Bản tặng TP Hội An (Ảnh: TRẦN THƯỜNG)

Nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông cho biết Hội An trước đó từng là cửa biển lớn của Champa với cụm đảo Tiêm Bất La (Cù Lao Chàm) và Đại Chiêm Hải khẩu (Cửa Đại ngày nay). Theo ông, Hội An cùng với chính sách "mở cửa" của các Chúa Nguyễn "đã mở ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn của khu vực; là nơi cung cấp nguồn vật liệu hết sức dồi dào cho các nước; thương thuyền phương Tây liên tiếp đến đây giao thương".

Cuốn "Xứ Đàng Trong" năm 1621, do tác giả Cristophoro Borri (1583 - 1632) biên soạn, miêu tả: "Trong khoảng hơn 100 dặm, người ta có thể đếm được trên 60 hải cảng…, trong đó Hội An là hải cảng đẹp nhất với nhiều ngoại kiều"; "Người Trung Hoa và Nhật Bản là thương khách chủ yếu trong hội chợ năm nào cũng mở, kéo dài gần 4 tháng ở Hội An"…

Ngày nay, dấu tích của một thương cảng lừng lẫy chính là phố cổ Hội An. Việc giao thoa của các nền văn hóa du nhập trong giai đoạn Hội An là một cảng biển quốc tế phát triển, kể cả khi đã suy tàn, khiến phố cổ Hội An có nhiều nét đặc trưng độc đáo. Điều đó đã tạo cho nơi đây một bản sắc văn hóa đa tầng, đa sắc diện, thể hiện qua các phong tục tập quán, sinh hoạt, tín ngưỡng, ẩm thực, lễ hội… rất phong phú và hấp dẫn.

Hội An hiện nay có hơn 1.360 di tích với nhiều công trình mang đậm dấu ấn văn hóa Nhật Bản, Trung Quốc. Với sự phồn thịnh của thương cảng Hội An, người Nhật Bản, Trung Quốc đã đến đây buôn bán, sinh sống và để lại nhiều di sản đến nay vẫn tồn tại.

Từ thập niên 1980, Hội An nhận được sự chú ý của các học giả Việt Nam và quốc tế. Đến năm 1999, UNESCO đã ghi tên Hội An vào danh sách các di sản thế giới. Đô thị cổ Hội An dần phồn vinh trở lại nhờ những hoạt động du lịch.

Các tư liệu lịch sử cho biết vào năm 1567, nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương "bế quan tỏa cảng", cho phép thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia Đông Nam Á, song vẫn cấm xuất sang Nhật một số nguyên liệu quan trọng. Điều đó đã buộc Mạc phủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các Châu Ấn thuyền (thuyền buôn Nhật Bản có vũ trang) sang mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á rồi mua lại hàng hóa Trung Quốc mang về.

Những Châu Ấn thuyền bắt đầu xuất dương từ năm 1604 đến khi chính sách đóng cửa được ban bố năm 1635. Nơi Châu Ấn thuyền ghé nhiều nhất chính là cảng Hội An. Thương nhân Nhật khi đó tới bán đồ đồng, sắt, đồ gia dụng... và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương...

Khoảng năm 1617, phố Nhật ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh đầu thế kỷ XVII. Sau đó, do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cũng như việc đàn áp người Nhật Công giáo của Chúa Nguyễn, phố Nhật ở Hội An dần lu mờ. Người Hoa dần thay thế vai trò của người Nhật trong việc buôn bán.

Những năm gần đây, Hội An trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách (ảnh Trần Thường)

Những năm gần đây, Hội An trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách (Ảnh: Trần Thường)

Thương nhân người Hoa biết đến Hội An từ rất sớm, họ tới buôn bán vì các tỉnh miền Nam Trung Quốc rất cần muối, vàng, quế... Khi đó, họ chỉ tới buôn bán rồi trở về. Sau khi loạn Minh - Thanh xảy ra - khoảng giữa thế kỷ XVII, hàng loạt người Hoa mới di cư tới miền Trung nước ta, xây dựng nên nhiều cộng đồng Minh Hương Xã.

Tại Hội An, người Hoa tới lưu trú ngày càng nhiều và thay thế người Nhật thao túng việc buôn bán. Cảng thị Hội An khi đó tập trung hàng hóa nước ngoài rất nhiều. Khu phố Đại Đường dọc bờ sông kéo dài 3-4 dặm, cư dân phần lớn là người Phúc Kiến, các cửa hàng ít khi nào vắng khách…

Khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra, rồi Chúa Trịnh đánh chiếm Quảng Nam năm 1775, cảng thị Hội An rơi vào cảnh loạn lạc. Sau khi chiếm được Hội An, quân Trịnh đã triệt phá nhà cửa khu vực thương mại, chỉ để lại công trình tín ngưỡng. Nhiều thương gia người Hoa đã di cư vào Nam, để lại Hội An điêu tàn, đổ nát.

Đến thế kỷ XIX, cửa sông Cửa Đại ngày càng thu hẹp, sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp khiến thuyền lớn không ghé được cảng Hội An. Lúc này, triều đình nhà Nguyễn thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế quan hệ với nước ngoài, nhất là phương Tây. Từ đó, Hội An dần suy thoái. Dù mất đi vai trò cảng thị quan trọng song hoạt động buôn bán ở Hội An chưa khi nào chấm dứt.

Thăng trầm cửa biển miền Trung- Ảnh 5.
Thăng trầm cửa biển miền Trung- Ảnh 6.

Địa danh Đà Nẵng, theo ngôn ngữ Chăm là "sông lớn", được ghi chú trên các bản đồ từ thế kỷ XVI. Cửa biển Đà Nẵng cũng từng là thương cảng lớn bậc nhất miền Trung và là nơi lưu dấu nhiều trận chiến quan trọng.

Một góc vịnh Đà Nẵng (ảnh Bích Vân)

Một góc vịnh Đà Nẵng (Ảnh: Bích Vân)

Cổ sử chép rằng từ đầu thế kỷ XV, thuyền buôn nước ngoài đã qua lại cửa biển Đà Nẵng. Theo nhiều tài liệu, người phương Tây đầu tiên đến Đà Nẵng là ông Antonio de Faria. Vị thuyền trưởng người Bồ Đào Nha này cùng tàu Albuquerque ghé Đà Nẵng năm 1533. Ông thăm Ngũ Hành Sơn rồi cùng tàu theo sông Cổ Cò đến thương cảng Hội An.

Giáo sĩ Christforo Borri - đến Đà Nẵng năm 1618 và ở lại Đàng Trong đến năm 1622 - đã ghi chép mối liên hệ giữa Hội An và Đà Nẵng: "Hai ngõ vào ấy là cửa biển Fulln Cianiallo (Cù Lao Chàm) và Turon (Đà Nẵng). Hai cửa biển ấy ban đầu cách nhau 3-4 dặm rồi rẽ xa nhau, đi sâu vào nội địa như hai con sông lớn, sau cùng gặp nhau ở một điểm. Ở địa điểm đó, người ta thấy nhiều tàu thuyền vào bằng cửa này hay cửa khác".

Cửa sông Hàn đổ ra biển Đà Nẵng ngày xưa (ảnh tư liệu)

Cửa sông Hàn đổ ra biển Đà Nẵng ngày xưa (ảnh tư liệu)

Từ thế kỷ XVI-XVIII, khi thương cảng Hội An phát triển rực rỡ, thông qua sông Cổ Cò nối sông Hàn với sông Thu Bồn, Đà Nẵng trở thành "tiền cảng". Đến thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn không cho phép tàu thuyền phương Tây đến Hội An buôn bán trực tiếp và sang đầu thế kỷ XX, khi thương càng này dần mất đi vai trò của mình, thì Đà Nẵng đã vươn lên thay thế.

Năm 1835, sau khi vua Minh Mạng có dụ: "Tàu Tây chỉ được đậu tại Cửa Hàn, còn các biển khác không được tới buôn bán" thì Đà Nẵng dần trở thành một thương cảng lớn. Thay vì Cửa Đại - Hội An như trước đây, các quan hệ buôn bán, ngoại giao ở miền Trung dần tập trung về Đà Nẵng.

Năm 1778, Chapman, một thương gia người Anh của Công ty Đông Ấn Anh, sau khi đến xứ Đàng Trong đã nhận xét: "Bờ biển có nhiều cảng tiện lợi, nhất là Đà Nẵng - nơi trú ẩn vững chắc cho các tàu thuyền mọi trọng tải trong mọi thời tiết xấu". Một người Anh khác là Macartney, đến Đà Nẵng năm 1793, mô tả: "Người ta có thể cho thuyền chạy khắp bờ biển mà không gặp tai nạn. Đáy biển sâu đều đặn từ 17 đến 20 sải".

Tàu Hải quân Mỹ đổ bộ biển Đà Nẵng ngày 8-3-1965 (ảnh tư liệu)

Tàu Hải quân Mỹ đổ bộ biển Đà Nẵng ngày 8-3-1965 (ảnh tư liệu)

Năm 1909, một sĩ quan Hải quân Nga sau đến Đà Nẵng trên tàu Rạng Đông đã kể lại: "Tàu chúng tôi trên đường từ Hải Phòng vào Sài Gòn đã ghé TP Turane. Tàu chúng tôi bị sóng đánh tròng trành mạnh. Vì thế, chúng tôi rất vui mừng khi được nghỉ ngơi trong vịnh được che chắn 4 bề bằng núi"…

Nhìn chung, từ thế kỷ XVI-XVIII, nhà nước phong kiến Việt Nam và nhiều người phương Tây xem Hội An là thương cảng bậc nhất ở Đàng Trong, Đà Nẵng chỉ là "tiền cảng". Thực tế, khi có cơ hội phát triển, cảng Đà Nẵng ngày càng đóng vai trò là một trong những cảng biển lớn nhất nước, là cửa ngõ giao thương của Việt Nam với thế giới.

Từ ngày đất nước thống nhất đến nay, cảng Đà Nẵng là một trong 3 thương cảng lớn nhất Việt Nam.

Sau này, khi đã xâm lược Việt Nam, năm 1901, thực dân Pháp cho khởi công xây dựng cảng Đà Nẵng nhằm phục vụ chính sách khai thác thuộc địa ở nước ta và Đông Dương. Cảng Đà Nẵng trở thành một hải cảng quan trọng trong hệ thống quân cảng và thương cảng của thực dân Pháp, kể cả sau này là Mỹ.

Nơi sông Hàn tiếp giáp vịnh Đà Nẵng (ảnh Xuân Sơn)

Nơi sông Hàn tiếp giáp vịnh Đà Nẵng (Ảnh: Xuân Sơn)

Từ ngày đất nước thống nhất đến nay, cảng Đà Nẵng là một trong 3 thương cảng lớn nhất Việt Nam. Đứng trên đèo Hải Vân nhìn về phía Đông Nam, nổi bật là vịnh biển xanh biếc - vịnh Đà Nẵng, nối liền với con sông lớn của thành phố - sông Hàn. Đoạn cuối của dòng sông tiếp giáp vịnh biển chính là cảng Đà Nẵng.

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC

Năm 1857, một đại thần nhà Nguyễn đã bẩm báo triều đình về khả năng thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng theo đường biển. Phó Đô đốc Rigault de Genouilly chọn Đà Nẵng bởi muốn phô trương sức mạnh quân sự của Pháp với triều đình Huế và đây cũng là vị trí chiến lược mà họ nắm rõ.

Cuối tháng 8-1858, hải đội liên quân Pháp - Tây Ban Nha bắt đầu tiến chiếm Đà Nẵng. Tháng 1-1859, quân Pháp đã hoàn tất giai đoạn đầu chiếm đóng Đà Nẵng. Đến tháng 12-1859, chuẩn đô đốc Théogène François Page, người thay thế Genouilly, phải cho quân rút khỏi Đà Nẵng về đồn trú Sài Gòn, vì nhiều lý do…

Sau này, Mỹ cũng chọn Đà Nẵng làm nơi đổ bộ Việt Nam từ đường biển. Sáng 8-3-1965, 3 tàu vận tải mang theo Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến số 9 tiến vào biển Xuân Thiều, nay thuộc quận Liên Chiểu. Chiều cùng ngày, một tiểu đoàn của Lữ đoàn 9 từ căn cứ quân sự Okinawa - Nhật Bản đã đáp xuống sân bay Đà Nẵng…

Sở dĩ Mỹ chọn Đà Nẵng đổ bộ vì đây là vị trí quân sự chiến lược, dễ bề chia cắt hai miền Nam - Bắc. Họ tính toán tận dụng nơi đây có cảng nước sâu và không xa miền Bắc, dễ bề xây dựng các căn cứ quân sự dã chiến để tấn công hậu phương của miền Nam bằng cả không quân lẫn hải quân.


Quang Vinh - Bích Vân
Lê Duy
Lên đầu Top

Thanh toán mua bài thành công

Chọn 1 trong 2 hình thức sau để tặng bạn bè của bạn

  • Tặng bằng link
  • Tặng bạn đọc thành viên