Các nước như Mỹ, Nga đang đang tích cực nghiên cứu và thử nghiệm các hệ thống phòng thủ tên lửa mới. Cuộc đua này không chỉ phản ánh sự cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc mà còn thúc đẩy một cuộc cách mạng trong công nghệ quân sự.
Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD)
Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) là một trong những vũ khí chống tên lửa mạnh nhất của quân đội Mỹ, có khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo ở cự ly 150-200 km.
Các tên lửa đánh chặn của THAAD có động năng, nghĩa là tên lửa tiêu diệt các mục tiêu đang tiếp cận bằng cách va chạm với mục tiêu thay vì phát nổ gần đầu đạn đang bay tới.
Bệ phóng của Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) được triển khai tại Israel vào ngày 4-3-2019. Ảnh: Không quân Mỹ
Theo báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS), quân đội Mỹ sở hữu 7 khẩu đội THAAD. Mỗi khẩu đội bao gồm 6 bệ phóng gắn trên xe tải, với mỗi bệ phóng chứa 8 tên lửa đánh chặn, một hệ thống radar mạnh mẽ, bộ phận liên lạc và điều khiển hỏa lực.
Thông qua hệ thống chỉ huy, kiểm soát và quản lý chiến đấu rộng rãi, các khẩu đội THAAD có thể liên lạc với nhiều hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ, bao gồm hệ thống Aegis thường thấy trên các tàu Hải quân Mỹ và các hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot được thiết kế để đánh chặn các mục tiêu tầm ngắn.
THAAD có khả năng đối phó mục tiêu chính xác là nhờ hệ thống radar cung cấp thông tin nhắm mục tiêu, radar Giám sát Radar Cơ động/Hải quân Lục quân hay AN/TPY-2.
Hệ thống radar này, có thể được triển khai cùng với tổ hợp tên lửa hoặc đã được lắp đặt sẵn trên các tàu của Hải quân Mỹ hay tại các cơ sở khác, có thể phát hiện tên lửa theo hai cách. Theo Dự án Phòng thủ Tên lửa, ở chế độ cơ sở phía trước, radar được cấu hình để phát hiện và theo dõi mục tiêu ở phạm vi lên tới 3.000 km. Còn ở chế độ đầu cuối, radar được hướng lên trên để phát hiện mục tiêu trong khi chúng hạ xuống.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, các mô hình sản xuất của hệ thống THAAD chưa bao giờ thất bại trong việc đánh chặn các mục tiêu đang bay tới trong tiến trình thử nghiệm.
"Rồng lửa" S-500 và S-550
Nói đến Nga, không thể không nói đến hệ thống phòng thủ tên lửa S-500 và S-550, vốn được thiết lập để cách mạng hóa thế trận phòng thủ của nước này.
S-500 là hệ thống phòng thủ tên lửa thế hệ mới của Nga do Công ty quốc phòng Almaz-Antey phát triển và là phiên bản cải tiến của hệ thống phòng thủ tên lửa S-400. Một trong những nâng cấp quan trọng nhất của S-500 là khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), tên lửa siêu vượt âm và thậm chí cả vệ tinh quỹ đạo thấp. Có thể nói S-500 là đối trọng trực tiếp với tên lửa mới nổi trên toàn thế giới.
Mặc dù cả S-300 và S-400 đều là những hệ thống đáng gờm theo đúng nghĩa của chúng, nhưng S-500 lại tiến xa hơn một bước về cả tầm bắn và tính linh hoạt trong việc tiêu diệt mục tiêu, khiến nó trở thành giải pháp phòng không thực sự tiên tiến.
S-500 là hệ thống phòng thủ tên lửa thế hệ mới của Nga do công ty quốc phòng Almaz-Antey phát triển. Ảnh: Bộ Quốc phòng Nga
Lợi thế quan trọng khác của S-500 là khả năng chống vệ tinh. S-500 có thể nhắm mục tiêu vào các vệ tinh quỹ đạo Trái đất tầm thấp, giúp mở rộng phạm vi hoạt động của hệ thống.
Lợi thế này giúp S-500 không chỉ trở thành hệ thống phòng thủ tên lửa có năng lực cao, mà còn là công cụ mạnh mẽ để ngăn chặn đối phương tiếp cận các tài sản quan trọng trên không gian như vệ tinh liên lạc, trinh sát và vệ tinh thời tiết.
Trong khi đó, S-550 được phát triển trên cơ sở tổ hợp S-500, sẽ có khả năng phát hiện mục tiêu tầm xa hơn. Theo nguồn tin của hãng thông tấn RIA Novosti, S-550 có thể vượt trội hơn tổ hợp THAAD và Hệ thống phòng thủ Aegis với tên lửa SM-3 Block llB của Mỹ.
Hãng thông tấn TASS dẫn nguồn tin thân cận với Bộ Quốc phòng Nga tiết lộ S-550 và S-500 sẽ cùng nhau bảo vệ các cơ sở chiến lược quan trọng của Nga khỏi tên lửa và các mối đe dọa từ không gian.
SM-3 được phóng từ tàu tuần dương mang tên lửa dẫn đường USS Lake Erie (CG-70) trong một lần thử nghiệm. Ảnh: Hải quân Mỹ
SM-3 - "khắc tinh" của tên lửa đạn đạo
RIM-161 Standard Missile-3 hay SM-3 (sản phẩm hợp tác giữa Mỹ và Nhật Bản) là tổ hợp tên lửa phòng không, phòng thủ tên lửa được trang bị trên các chiến hạm. Theo tạp chí National Interest, hồi tháng 4-2024, Hải quân Mỹ lần đầu tiên sử dụng tên lửa SM-3 để ngăn chặn các tên lửa đạn đạo của Iran tấn công lãnh thổ Israel.
Là thành phần mạnh mẽ và tiên tiến nhất của hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis, SM-3 được thiết kế có khả năng đánh chặn các loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung của đối phương.
Tên lửa SM-3 Block IIA trong quá trình sản xuất. Ảnh: Raytheon
Có thể nói SM-3 là loại tên lửa tiêu chuẩn duy nhất được chế tạo để hoạt động trong môi trường chân không của không gian. SM-3 bắt nguồn từ tên lửa SM-2 Block IV cũ hơn, được thiết kế như một phần của hệ thống Aegis.
Tên lửa SM-3 có tốc độ tối đa đạt hơn 4 km/giây, với tầm hoạt động lên tới 2.500 km. Không chỉ vậy, SM-3 có khả năng bắn hạ tên lửa đạn đạo xuyên lục địa trong giai đoạn trước và khi chúng bắt đầu hồi quyển. Ngoài ra, SM-3 có thể phá hủy vệ tinh ở quỹ đạo thấp.
Block IIA là phiên bản mới nhất và hiện đại nhất của tên lửa SM-3. Theo mô tả, Block IIA có thể đánh trúng mục tiêu ở khoảng cách tối đa 1.200 km, độ cao mục tiêu là 900-1.050 km (tùy thuộc vào loại mục tiêu).
Raytheon, công ty con của Công ty công nghiệp quốc phòng RTX hàng đầu của Mỹ, đã so sánh kỹ thuật "hit-kill" (va chạm và tiêu diệt) của vũ khí phòng thủ này với việc chặn một viên đạn bằng một viên đạn khác. Tên lửa tấn công các mối đe dọa với lực của một chiếc xe tải 10 tấn đang di chuyển với tốc độ 965 km/giờ.
Theo trang Naval Technology, Công ty Raytheon đã được Cơ quan Phòng thủ Tên lửa (MDA) thuộc Lầu Năm Góc cho phép chế tạo tên lửa chống đạn đạo SM-3 Block IIA với công suất tối đa. Như vậy, các cơ sở của công ty này ở TP Tucson (bang Arizona) và TP Huntsville (bang Alabama) sẽ tích cực sản xuất trong 7 năm tới.




Bình luận (0)