Địa danh Long Tuyền - Bình Thủy có từ xa xưa. Trong cuốn "Cần Thơ xưa" của tác giả Huỳnh Minh và "Ban đầu tìm hiểu địa danh TP Cần Thơ" có nhắc đến 2 địa danh này. Sách viết rằng địa danh Long Tuyền có từ đời Hậu Lê đến đời vua Gia Long năm thứ 15 (Bính Tý năm 1816).
Bấy giờ, ông Lê Thành Hiếu, người ở Định Tường, chạy giặc, đem vợ con đến đấy trú ngụ tại ấp Hưng Hoà, mở mang đường sá, khai khẩn ruộng vườn. Đồng thời, ông Võ Văn Tựu cũng người Định Tường, đến trú ngụ tại ấp Thới Hoà. Dần dần 2 ông đều khá lên, khai hoang lập ấp. Bỗng lại xảy ra cơn bão lụt, nhà cửa ruộng vườn tang tóc, dân chúng lại tạm lánh đi nơi khác.
Đến đời Tự Đức thứ 5 (Nhâm Tý năm 1852), quan Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt ngồi thuyền đi tuần thú, vừa đến một cái cồn thì gặp phải trận cuồng phong, ai nấy đều kinh hoàng.
Một viên hầu cận nhìn xem địa thế, khẽ bẩm: "Nơi khoảng xa xa kia có chỗ yên lặng cho thuyền đến đó núp gió ắt an toàn". Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt nghe theo, truyền quân chèo thuyền đi ngay vào vàm rạch ấy. Nhìn kỹ ngọn rạch yên lặng như mặt nước hồ thu, cụ tuần phủ liền cho gọi dân quanh vùng đến gạn hỏi. Các vị bô lão đến ứng hầu rất đông.
Cụ tuần phủ nói" "Chỗ này cảnh vật lâu nay ra sao?". Các bô lão bẩm: "Ngọn rạch thường yên lặng, không hề có sóng to gió lớn. Hoa màu thịnh vượng. Dân lạc nghiệp an cư. Ấy cũng nhờ đức hoàng ân được thái bình".
Cụ tuần phủ khen thầm địa thế như rồng nằm, nghiêm trang tuyên bố: "Nay ta nhờ theo dòng nước đến đây mà được bình yên vô sự. Vậy ta đặt tên chỗ này là Bình Thuỷ". Cái tên Bình Thủy còn giữ đến ngày nay, xuất xứ từ giai thoại trên đây.
Sau này, vị tri phủ Nguyễn Đức Nhuận và cai tổng Lê Văn Noãn khi ấy đều là người quê quán Bình Thuỷ, động niềm yêu quê hương tha thiết, càng gắng mưu sự tốt đẹp cho dân. Hai ông lại cho mời đông đủ thân hào, nhân sĩ nhóm họp, bàn việc đổi tên làng thành Long Tuyền (có nghĩa là "suối rồng" bởi hình dáng rạch giống con rồng) và được mọi người ủng hộ. Khi thôn lập nên cũng mang tên Long Tuyền, tên Bình Thủy cũ vẫn còn giữ đặt cho đình, ngôi chợ.
Từ ngày 5-1-1876, thôn Long Tuyền được đổi thành làng Long Tuyền, thuộc hạt tham biện Cần Thơ, từ ngày 1-1-1900 thuộc tỉnh Cần Thơ. Sau năm 1956 gọi là xã Long Tuyền, thuộc quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh; từ năm 1975-1976 đổi gọi là phường. Năm 2004, TP Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thì Long Tuyền trở thành một phường thuộc quận Bình Thủy cho đến ngày nay.
Trong số 7 di tích nói trên thì có 3 ngôi chùa từng nuôi giấu cán bộ cách mạng. Đại đức Thích Quang Chương, phụ trách chánh điện chùa Long Quang, cho biết chùa Long Quang được thành lập năm 1824 (thời vua Minh Mạng) do hòa thượng Liểu Huệ, tục danh Võ Văn Quyền, sáng lập. Ban đầu, chùa là ngôi am tranh. Đến năm 1835, nơi đây được hòa thượng Liểu Huệ xây dựng thành chùa và đặt tên là Long Trường Tự. Sau đó, khi hòa thượng Quảng Hiền trụ trì thì cho trùng tu lại chùa và đổi tên thành Long Quang Tự.
Khuôn viên chùa Long Quang rộng rãi và thoáng mát, thanh tịnh.
Chùa Long Quang có đóng góp to lớn cho cách mạng trong kháng chiến. Hiện nay, chùa đang lưu giữ và thờ cúng 50 tượng Phật bằng gỗ quý.
Chùa Long Quang có bộ 18 vị La Hán bằng gỗ quý đã hơn 100 năm.
Nhắc đến chùa Nam Nhã hay Nam Nhã Đường (phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy), du khách nhớ đến một ngôi chùa nằm cặp con sông thơ mộng với nhiều cây cổ thụ, đồ thờ tự trên trăm năm tuổi và bộ kinh mộc bản rất giá trị. Người lập chùa Nam Nhã là ông Nguyễn Giác Nguyên (1850-1919), học trò của cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa.
Do vị trí thuận lợi, yên tĩnh cũng như truyền thống yêu nước của tín đồ chùa Nam Nhã mà trong những năm đầu đầy khó khăn, gian khổ của cách mạng Việt Nam, các tổ chức Đặc ủy Hậu Giang, Xứ ủy Nam Kỳ đã lấy nơi đây làm địa điểm liên lạc với các tổ chức cách mạng khác trong toàn miền.
Trong kháng chiến, chùa Nam Nhã được Đặc ủy Hậu Giang, Xứ ủy Nam Kỳ chọn làm địa điểm liên lạc với các tổ chức cách mạng.
Một góc chùa Nam Nhã hiện nay.
Một số tư liệu về chùa này viết rằng vào năm 1946, để bảo vệ cơ sở cách mạng tại đây, hòa thượng Thích Pháp Thân (trụ trì chùa) đã quyết định đốt một phần ngôi chánh điện. Trong thời gian chống Mỹ, nhà chùa tiếp đón, giúp đỡ, lo chu đáo về chỗ ăn chỗ ở cho hàng trăm gia đình thân nhân hằng tuần từ các nơi về đây thăm chồng con em là cán bộ chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam tại trại tù binh Lộ Tẻ.
Cho đến ngày nay, người dân TP Cần Thơ nói chung và người dân quận Bình Thủy nói riêng rất tự hào vì trong thời kháng chiến chống Pháp, cơ quan Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang đặt tại nơi đây.
Sau 5 tháng hoạt động, Đặc ủy đã xây dựng các cơ sở Đảng khắp miền Hậu Giang, gồm: Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sa Đéc, Long Xuyên… góp phần quan trọng trong việc tiến tới thống nhất Đảng thành một tổ chức Đảng duy nhất, để lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Sau ngày 3-2-1930, thống nhất 3 tổ chức đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Đặc ủy trực thuộc Xứ Uỷ Nam kỳ. Đồng chí Ung Văn Khiêm được phân công làm ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, đồng chí Hà Huy Giáp làm Bí thư Đặc ủy Hậu Giang. Tháng tháng 4-1930, do yêu cầu bảo toàn cho Đặc ủy, nên cơ quan Đặc ủy chuyển sang tỉnh Sa Đéc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đặc ủy và các chi bộ Đảng, phong trào cách mạng miền Hậu Giang phát triển rầm rộ, góp phần làm nên cao trào cách mạng 1930 - 1931, 1936 - 1939 dẫn đến thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Hiện Đặc ủy là di tích lưu niệm sự kiện lịch sử cách mạng, "địa chỉ đỏ" để giáo dục tư tưởng thế hệ trẻ TP Cần Thơ qua nhiều thời kỳ.
Long Tuyền - Bình Thủy là vùng đất địa linh nhân kiệt, nhiều danh nhân như: Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, nhà sư Nguyễn Giác Nguyên; các lãnh tụ cách mạng như: Cường Để, Nguyễn Thần Hiến, Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm… đều đã từng đặt chân hoạt động trên vùng đất này.
Tượng Bùi Hữu Nghĩa
Bùi Hữu Nghĩa hiệu Nghi Chi (1807-1872), năm 1835 ông đỗ giải Nguyên kỳ thi Hương trường thi Gia Định, từ đây ông vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh. Được bổ làm quan tri huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa rồi làm tri huyện Trà Vang (Trà Vinh), tỉnh Vĩnh Long, là một vị quan thanh liêm, cương trực, được nhân dân yêu mến, nổi tiếng qua vụ xử kiện rạch Láng Thé năm 1848.
Ngoài ra, ông còn là một nhà giáo mẫu mực, người thầy thuốc, nhà thơ, nhà văn, nhà soạn tuồng nổi tiếng của miền Nam vào cuối thế kỷ XIX. Các tác phẩm của ông mang giá trị nhân văn sâu sắc, có vai trò và đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà.
Mộ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa cùng vợ.
Những bài thơ của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa được đặt gần mộ ông.
Sinh thời, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa là một vị quan thanh liêm, cương trực, được nhân dân yêu mến.
Riêng 2 di tích Nhà thờ họ Dương (còn gọi là nhà cổ Bình Thuỷ) và đình Bình Thủy đều là những minh chứng sống động về truyền thống kiến trúc, nghệ thuật xây dựng tinh xảo của thế hệ trước.



Nhà cổ Bình Thủy được xem là ngôi nhà cổ đẹp nhất miền Tây và là địa điểm du lịch nổi tiếng ở Cần Thơ.
Đình Bình Thủy được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1989.
Lễ hội Kỳ Yên Thượng Điền và Hạ Điền tổ chức hằng năm tại đình Bình Thủy thu hút nhiều người tham gia.




















Bình luận (0)