Các công trình chính của Hiếu Lăng được bố trí nằm trên một trục thần đạo, công trình phụ được sắp đặt đối xứng hai bên nhưng nhờ dựa vào cảnh quan thiên nhiên mà trở nên hài hòa, thơ mộng
Minh Mạng (1791-1841) là vị hoàng đế thứ 2 nhà Nguyễn, thuở nhỏ ông đã được đánh giá văn võ song toàn nên khi lên ngôi ở tuổi 30 thì không ngỡ ngàng với công việc triều chính. Trong 13 đời vua triều Nguyễn, thời Minh Mạng được đánh giá là giai đoạn thịnh vượng và hùng mạnh nhất của nước ta.
Lăng mộ vua Minh Mạng có tên là Hiếu lăng nằm bờ Bắc sát sông Hương ở ngã ba Tuần - nơi hợp lưu Tả Trạch và Hữu Trạch. Để đến Hiếu lăng, du khách có thể lựa chọn đường bộ hoặc thong dong ngược dòng Hương giang ngắm cảnh. Hiếu lăng có sơn thủy hữu tình, hài hòa thiên nhiên nhưng để tìm ra khu đất xây lăng mộ vừa lòng vị vua anh minh này thì các quan thần phải mất đến 14 năm tìm kiếm ngôi đất.
Hiếu lăng được bố trí theo trục dọc, xung quanh là hồ nước và rừng cây khá mát mẻ, hiền hòa, ảnh: Quang Nhật
Theo các sử sách, những vị vua triều Nguyễn đều xây dựng lăng tẩm cho mình khi còn tại vị trên ngai vàng. Vì vậy, sau khi lên ngôi được 7 năm, Minh Mạng đã sai các quan trong triều giỏi về địa lý, phong thủy đi chọn lựa ngôi đất tốt "vạn niên cát địa" để chuẩn bị xây lăng cho mình. Năm 1826, quan địa lý Lê Văn Đức, sau một năm tìm kiếm đã chọn được cuộc đất ở núi Cẩm Kê, ấp An Bằng, nay thuộc xã Hương Thọ (TP Huế).
Vì tính cẩn trọng, vua Minh Mạng lệnh cho các quan địa lý tiếp tục công việc tìm kiếm ngôi đất. Mãi đến tháng 4-1840, vua Minh Mạng thân hành lên xem lại cuộc đất và quyết định chọn nơi này làm chỗ xây dựng sơn lăng. Nhà vua đã cho đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn và đặt tên cho lăng tẩm của mình là Hiếu lăng.
Hiếu lăng được khởi công vào tháng 9-1840 nhưng khi đang tiến hành xây dựng thì vua Minh Mạng lâm bệnh và băng hà ngày 20-1-1841. Một tháng sau, vua Thiệu Trị ra lệnh cho Bộ Công điều động binh lực, thợ thuyền gấp rút tiếp tục xây dựng lăng tẩm cho Đại Hành Hoàng đế Minh Mạng (cách gọi của triều đình khi vua băng hà nhưng chưa an táng).
Công trình đặt dưới sự chỉ huy và giám sát của các đại thần Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Đường cùng với gần 10.000 lính và thợ thi công tiếp công trình theo đúng bản vẽ của Bộ Công đã được vua Minh Mạng phê duyệt trước đó. Công việc xây lăng đến năm 1843 mới cơ bản hoàn thành.
Đây là lăng duy nhất của một vị hoàng đế không có bồi táng hoàng hậu hay các thành viên khác trong hoàng gia. Lăng được lựa chọn, quy hoạch và xây dựng rất công phu với diện tích gần 500 ha nhưng khu lăng chính chỉ khoảng 15 ha, có vòng tường thành xây đá núi, cao 3,6 m, dài gần 2.000 m bao bọc. Hiếu lăng có khoảng 40 công trình lớn nhỏ được xây dựng theo chuẩn mực kiến trúc Nho giáo. Các công trình toát lên vẻ hoành tráng, uy nghiêm nhưng vẫn hài hòa, gần gũi với thiên nhiên, đây chính là sự tài ba lỗi lạc của các nhà kiến trúc xưa.
Lăng gối đầu lên hai ngọn núi, ngọn thấp là Hiếu Sơn, ngọn cao nhất là Kim Phụng (núi chủ của vùng Huế, cao 475 m), xoay mặt theo hướng Đông Nam; sông Hương phía trước là "minh đường", dãy núi Tứ Tượng bên kia sông làm "tiền án". Bên trái lăng có núi Ngọc Trản làm thế "tả thanh long", bên phải có núi Tôn Sơn tạo thế "hữu bạch hổ".
Các công trình kiến trúc chính của Hiếu lăng được sắp đặt cùng nằm trên một trục dọc, đường Thần đạo (trung tâm) chạy sâu vào phía trong, dài khoảng 700 m dành cho hoàng đế, lợp ngói Hoàng lưu ly (ngói vàng), còn các công trình phụ được bố trí hai bên, đối xứng từng cặp qua trục Thần đạo, dành cho quan lại và các bà, lợp ngói Thanh lưu ly (ngói xanh).
Hiếu lăng được bố trí theo trục dọc, xung quanh là hồ nước và rừng cây khá mát mẻ, hiền hòa, ảnh: Quang Nhật
Mở đầu trục Thần đạo là bình phong ngoài, rồi đến Đại Hồng môn kiểu tam quan xây gạch. Tiếp theo là sân chầu lát gạch Bát Tràng với hai hàng thạch tượng sinh gồm voi, ngựa, quan văn - quan võ; cuối sân có lân đồng đứng trong thiết đình.
Tòa nhà bia đặt trên nền đài 2 tầng, cao hơn 9 m; riêng nhà bia kiểu phương đình, bên trong dựng tấm bia Thánh Đức Thần Công cao hơn 3 m, đặt trên bệ đá Thanh; tiếp theo là 3 tầng sân tế.
Khu tẩm thờ nằm trong vòng tường thành kép kín, trổ cửa 4 mặt. Mở đầu bằng Hiển Đức môn, một chiếc cửa tam quan bằng gỗ, có cổ lâu. Tiếp đến là điện Sùng Ân, làm kiểu nhà kép, trong thờ vua Minh Mạng và Hoàng hậu. Phía trước hai bên là Đông - Tây phối điện, phía sau hai bên có tả - hữu tùng viện. Sau cùng kết thúc bằng Hoằng Trạch môn, kiểu cửa vòm xây gạch.
Trước mộ vua có một hồ nước khá rộng hình trăng non, có tên Tân Nguyệt trì, ôm lấy Bửu Thành. Các học giả cho rằng: Đây là hình ảnh thế giới vô biên. Hồ bán nguyệt ví như yếu tố "âm" bao bọc, che chở cho yếu tố "dương" là Bửu Thành - biểu tượng mặt trời. Kết cấu kiến trúc này thể hiện quan niệm của cổ nhân về sự biến hóa ra muôn vật, đó là nhân tố tác thành vũ trụ.
Minh Lâu được xây theo lối "phương đình", được tọa lạc trên ngọn đồi có tên là Tam Tài sơn. Đây là công trình kiến trúc tiêu biểu nhất, cao nhất, đẹp nhất ở lăng vua Minh Mạng, tên của công trình có nghĩa là "lầu sáng". Nhiều học giả cho rằng Minh Lâu mang nhiều ý nghĩa triết lý phương Đông: Trên đỉnh nóc là bầu Thái cực "vô cực sinh thái cực", lầu có 2 tầng chính tượng trưng cho "lưỡng nhi". Minh Lâu có hình vuông tượng trưng cho "tứ tượng", trên có 8 lá mái là "bát quái", bát quái biến hóa tạo cho vạn vật sinh sôi…
Với tên gọi Minh Lâu của công trình này, nhiều người liên tưởng đến Minh lăng (Thập Tam lăng) ở Bắc Kinh - Trung Quốc, tại đó Minh Lâu là công trình quan trọng nhất trong lăng của các vị vua nhà Minh, nơi đặt bia chủ nhà vua.
Minh Lâu của lăng Minh Mạng chỉ có chức năng dành cho các vua đời sau đến ngắm cảnh nghỉ ngơi, ngưỡng vọng các bậc tiên đế. Nằm trong tổng thể kiến trúc của Minh Lâu, phía trước sát hồ Trừng Minh, trái có Nghinh Lương quán, phải có Điếu Ngư đình. Hai ngôi đình này có kiến trúc, dáng vẻ khác nhau được bố trí nằm sát hồ Trừng Minh, đối xứng qua tòa nhà chính Minh Lâu đã góp phần tạo nên vẻ đẹp thơ mộng ở cảnh vườn Hiếu lăng.
Phía sau, ở hai bên Minh Lâu là hai ngọn đồi Bình Sơn và Thành Sơn, giữa hai đồi dựng 2 Hoa biểu, như hai ngọn đuốc thiêng để đưa linh hồn nhà vua trở về với thế giới vĩnh hằng. Dưới chân 2 hoa biểu còn đắp 2 hòn dã sơn tạo thế phong thủy "tả thanh long, hữu bạch hổ" (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) chầu vào tòa nhà Minh Lâu. Từ Minh Lâu nhìn vào Bửu Thành, dưới chân Minh Lâu có 2 bồn hoa có hình chữ Thọ, trồng cây vạn tuế như lời chúc tụng nhà vua muôn tuổi.










Bình luận (0)