Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long xưa. Trải dài lịch sử gần 1.000 năm, nằm dưới những nhành cây cổ thụ thâm nghiêm, khu di tich này ẩn chứa trong mình nhiều giá trị đặc biệt, những câu chuyện ít người biết đến.
Người Hà Nội có lẽ ít nhiều cũng đến Văn Miếu Quốc Tử Giám đôi lần. Người muốn tham quan ngôi trường ĐH đầu tiên của Việt Nam. Người đến vì hiếu học, người thích cái không gian thâm trầm cổ kính, sĩ tử thì nườm mượp đến đây cầu may trước mỗi kỳ thi. Còn tôi, mỗi khi căng thẳng, thích đi trên những hàng gạch nâu mát dịu dưới những tán cây. Ngắm cái màu xanh dịu mát như tách biệt hoàn toàn khỏi cái không khí ngột ngạt ngoài kia. Thấy lòng dịu lại, chỉ thế thôi, không cần nhiều.
Văn Miếu được xây dựng vào năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học".
Thuở ban đầu, công trình được xây lên chỉ với mục đích là nơi thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho như Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối và là chỗ học của con vua. Đến năm 1076, Quốc Tử Giám được xây dựng bên cạnh biến thành trường đại học trước tiên của nước Việt, dành riêng cho con vua và các gia đình quý tộc.
Năm 1253 (đời vua Trần Thái Tông), Quốc Tử Giám được đổi tên thành Quốc học viện và thu nhận cả con cái nhà thường dân có sức học xuất sắc. Tới đời vua Lê Thánh Tông, tại Văn Miếu Quốc Tử Giám mở đầu có bia của những người thi đỗ tiến sĩ.
Trải dài lịch sử gần 1000 năm, nằm dưới những nhàng cây cổ thụ thâm nghiêm, Văn Miếu – Quốc Tử Giám ẩn chứa trong mình nhiều giá trị đặc biệt, những câu chuyện được ít người biết đến.
Trong khuôn viên của di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám có một khu vườn từ Khuê Văn Các đến cửa Đại Thành, gọi là vườn bia đá tiến sĩ. Sát bờ hồ Thiên Quang Tỉnh là lối đi và những dãy bia đá trang nghiêm, cổ kính dựng thành hai khu Đông và Tây. Mỗi khu chứa hai dãy bia đá, tất cả gồm 82 tấm bia ghi tên tuổi những vị đỗ đại khoa kể từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến muộn nhất là khoa Kỷ Hợi (1779) trước khi kinh đô triều Nguyễn chuyển vào Huế. Đây là những hiện vật thuộc loại quý nhất của Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Năm 2010, 82 tấm bia tiến sĩ đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu và ghi vào danh mục Ký ức thế giới toàn cầu.
Năm 1484, với chủ trương đề cao Nho học và tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, vua Lê Thánh Tông đã cho dựng những tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho các khoa thi Đình các năm trước đó của nhà Hậu Lê. Thư pháp gia Tô Ngại là người đầu tiên viết trán bia kiểu chữ triện trên 7 tấm bia đầu tiên trong lịch sử dựng bia tiến sĩ ở Việt Nam. Việc này đã tạo tiền lệ, và việc dựng bia tiến sỹ kéo dài cho đến triều Nguyễn.
Câu văn nổi tiếng nhất được khắc trên văn bia văn miếu là "Hiền tài quốc gia chi nguyên khí" của Thân Nhân Trung viết trên bia của khoa thi 1442, dựng năm 1484. Đây là bia của khoa thi đầu tiên của triều Lê niên hiệu Bảo Đại thứ 3. Hiện tại, chiếc bia này nằm ở chính giữa khu bia phía Đông Văn Miếu.
Nguyên văn toàn bộ đoạn văn bia này dịch ra tiếng Việt: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và lên cao. Nguyên khí suy thì thế nước xuống thấp. Bởi vậy, các bậc thánh đế minh vương không ai là không lấy việc sử dụng và tuyển chọn nhân tài là việc đầu tiên".
Tinh thần này được khắc lặp đi lặp lại trong các khoa thi tiếp theo. Bia năm 1448 nhấn mạnh "Nhân tài đối với quốc gia quan hệ rất lớn", trong khi nhiều bia khác nhắc đến việc "phải vun trồng, bồi dưỡng nhân tài"...
Trong quan niệm của nhiều người, rùa chính là linh vật đội những tấm bia thể hiện cho sự trường tồn. Hình ảnh rùa cõng trên mình tấm bia tiến sĩ đã trở thành biểu tượng của Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Cố GS Phan Huy Lê từng chia sẻ hình ảnh con rùa vốn rất gần gũi trong đời sống người Việt Nam. Trong các bàn thờ thờ Thành hoàng làng, hình ảnh con rùa và con hạc thường uy nghi đứng hai bên như một vật biểu linh cho tinh thần, sức mạnh của dân tộc. Có lẽ vì thế, vua quan thời Lê cũng đã lấy hình tượng con rùa để gắn liền với bia tiến sĩ. Cố GS cũng cho rằng trong quan niệm của người Á Đông, rùa được xem là biểu tượng của vũ trụ. Mai rùa tượng trưng cho bầu trời, còn bụng rùa tượng trưng cho mặt đất.
Ở nước ta, con rùa có vị trí rất đặc biệt từ thời An Dương Vương xây thành ốc Cổ Loa tại Đông Anh, Hà Nội. Xưa kia, An Dương Vương cho quân lính xây thành nhiều lần, nhưng cứ xây xong thành lại bị đổ mà không biết nguyên do gì. Sau này thần rùa Kim Quy xuất hiện đã giúp cho An Dương Vương xây dựng thành công thành Cổ Loa. Sau này rùa thần trao cho An Dương Vương một chiếc nỏ thần có thể bắn một lần trăm phát, đánh trăm trận trăm thắng.
Truyền thuyết cũng kể vua Lê Lợi sau khi đánh thắng giặc Minh nhờ thanh kiếm thần, một hôm đi dạo thuyền chơi trên hồ Tả Vọng, Long vương đã cho rùa thần lên đòi lại kiếm. Từ đó hồ Tả Vọng có tên là hồ Hoàn Kiếm. Như vậy, việc đặt bia tiến sĩ trên lưng rùa được cho là không chỉ thể hiện cho sự trường tồn bất diệt của thời gian mà nó còn có ý nghĩa linh thiêng.
Tuy nhiên, có một giả định cho rằng, con vật đội bia Văn Miếu có hình dáng của rùa mang tên là Bí Hý (hay còn gọi là Bá Hạ). Xuất phát điểm của giả thiết này là truyền thuyết "Long sinh cửu tử" trong sách Vũ Trung tùy bút của Vũ Phương Đồ. Theo truyền thuyết này thì rồng sinh ra 9 con nhưng đều không mang hình dáng của mẹ. Trong số đó có 1 con vật tên là Bí Hý, trông như con rùa, tính ưa chở nặng và sống trường thọ.
Một điều đặc biệt ít người biết là toàn bộ những dòng mỹ hiệu, mỹ tự viết về chúa Trịnh trên các bia tiến sĩ trong Văn Miếu đều bị đục, xóa chữ. Theo GS Đỗ Văn Ninh, đó là sản phẩm từ thời nhà Nguyễn, khi năm 1840, vua Minh Mạng yêu cầu đục bỏ những đoạn ca ngợi công đức họ Trịnh trên một số bia tiến sĩ thời Lê Trung Hưng tại Quốc Tử Giám. Một số khác thì cho rằng, các triều này sau này không muốn chúa Trịnh đứng ngang với các vua Lê nên đã ra lệnh xóa chữ đi.
Ngô Thì Nhậm và Lê Quý Đôn cũng là hai nhân vật lịch sử bị xóa tên trên bia. Ngô Thì Nhậm qua đời sau trận đòn phạt vào triều Gia Long năm 1803, thông tin về ông từng khắc trên tấm bia đá năm Cảnh Hưng 36 (1775). Tuy nhiên sau đó, trong danh sách 18 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, dòng thứ 5 (có nội dung bằng chữ Hán, được ghi lại trong sử liệu: Ngô Thì Nhậm, người xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Thiêm tri, Hiến phó) đã bị đục bỏ, chỉ còn một số nét khắc mờ. Đã từng có ý tưởng khôi phục tên các danh sĩ Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn trên bia đá Văn Miếu, tuy nhiên các nhà nhà nghiên cứu đều cho rằng đây là việc làm không cần thiết. GS Lê Văn Lan cho rằng bia đá Văn Miếu là di vật mà thực tế lịch sử để lại, và chúng ta cần tôn trọng. Dù là triều Lê hay triều Nguyễn, việc đục tên như vậy đúng sai thế nào thì hậu thế đã có câu trả lời rõ ràng. Thậm chí, câu chuyện ấy càng khiến chúng ta nhớ tới Ngô Thì Nhậm nhiều hơn.
Tháng 11-2000, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh kết thúc, mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước. Trong chuyến thăm lịch sử này, người dân Hà Nội vô cùng thích thú khi người đứng đầu nước Mỹ sờ đầu rùa ở Văn Miếu. Nhiều người nhận xét hành động sờ đầu rùa của cựu tổng thống Bill Clinton cho thấy ông rất trân trọng văn hóa Việt Nam. Không biết sờ đầu rùa có lấy được may không, nhưng sau đó, rất nhiều người, đặc biệt là các sĩ tử, đến Văn Miếu sờ đầu rùa cầu may mắn, đặc biệt trước mỗi kỳ thi. Đến nỗi, trung tâm hoạt động khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám phải tạo hàng rào ngăn không cho du khách xoa đầu rùa, gắn camera quan sát, tăng cường lực lượng nhắc nhở du khách…
Khi hoàng đế Quang Trung băng hà, người kế vị là Quang Toản đã quyết định trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, tuy nhiên việc này chưa kịp thực hiện thì nhà Tây Sơn đổ. Vua đầu triều Nguyễn là Gia Long đã giao tổng trấn Bắc Thành là ông Nguyễn Văn Thành sửa sang Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đồng thời dựng thêm một kiến trúc giờ đây trở thành biểu tượng của thủ đô, đó là Khuê Văn các (1805).
Theo cách lý giải của người xưa, "Khuê" là tên một ngôi sao trong chòm 28 sao trên giải ngân hà. Chòm sao Khuê có 16 ngôi, sắp xếp khúc khuỷu giống như hình chữ Văn. Trong sách "Hiếu kinh" có ghi: "Khuê chủ văn chương", tức sao Khuê là sao chủ của văn chương. Những ô cửa sổ tròn trên gác Khuê Văn tượng trưng cho bầu trời, khi ánh nắng chiếu qua sẽ phản chiếu xuống giếng Thiên Quang bên dưới, tượng trưng cho mặt đất. Lối kiến trúc này mang tư tưởng triết lý sâu xa của người xưa, ý nói đây là nơi tập trung mọi tinh hoa của trời đất và đề cao văn hóa Nho học Việt Nam.
Dù Tháp Rùa - hồ Hoàn Kiếm, chùa Một Cột, Hoàng thành Thăng Long… đều rất thân quen và có lịch sử lâu đời hơn Khuê Văn các, nhưng với những tư tưởng, triết lý sâu xa, tôn vinh truyền thống hiếu học của người Việt, năm 1999, Khuê Văn các chính thức được chọn là biểu tượng của Thủ đô Hà Nội.
Từ sau Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (vào năm 2010) biểu trưng Khuê Văn các đã trở thành hình ảnh thân thuộc, gắn bó, mang tính biểu tượng của Thủ đô ngàn năm văn hiến.















Bình luận (0)