Tàu ngầm, tàu robot, siêu ngư lôi… được coi là chìa khóa mở ra kỷ nguyên mới cho các cuộc đối đầu ở đại dương
---0---
Mỹ và Nga hiện đứng đầu về tàu ngầm trên thế giới. Theo tạp chí Popular Mechanics, cuộc cạnh tranh của 2 nền quân sự này đã có từ thời Chiến tranh Lạnh. Cuộc chạy đua vũ trang dưới lòng đại dương diễn ra khi 2 bên ra sức áp dụng công nghệ năng lượng hạt nhân, ngư lôi dẫn đường, tên lửa đạn đạo có thể mang đầu đạn hạt nhân.
Mới đây, hồi đầu tháng 7, Hải quân Nga được biên chế chiếc tàu ngầm dài nhất thế giới - tàu ngầm hạt nhân Belgorod. Với chiều dài 184 m, Belgorod dài hơn cả các tàu ngầm tên lửa dẫn đường và tên lửa đạn đạo dài 171 m thuộc lớp Ohio của Mỹ.
Thiết kế của tàu ngầm Belgorod là phiên bản sửa đổi của tàu ngầm mang tên lửa dẫn đường lớp Oscar II của Nga. Tuy nhiên, Belgorod được chế tạo dài hơn với mục đích cuối cùng là để trang bị ngư lôi tàng hình có khả năng mang đầu đạn hạt nhân đầu tiên trên thế giới và các thiết bị thu thập thông tin tình báo.
Theo các chuyên gia phương Tây, nếu Belgorod có thể bổ sung thành công những khả năng mới đó vào hạm đội Nga thì trong thập kỷ tới, tàu ngầm của Mỹ và Nga sẽ theo dõi và săn đuổi nhau một cách kịch tính và nguy hiểm.
Hãng tin TASS cho biết tàu ngầm Belgorod sẽ mang ngư lôi hạt nhân Poseidon vốn được thiết kế để phóng đến mục tiêu từ cách xa hàng trăm km và xuyên thủng mọi hệ thống phòng thủ ven biển bằng cách di chuyển dọc theo đáy biển. Theo báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội (CRS) Mỹ, tàu ngầm Belgorod có thể chở tới 8 ngư lôi Poseidon.
Tàu ngầm hạt nhân của Nga và ngư lôi hạt nhân Poseidon của Nga được giới thiệu như một siêu vũ khí. Ảnh lấy từ video giới thiệu về Poseidon của Bộ Quốc phòng Nga. Ảnh: Bộ Quốc phòng Nga - 19fortyfive
Về phía Mỹ, dựa vào kế hoạch Thiết kế Lực lượng 2045 (Force Design 2045), chiến lược của Hải quân Mỹ những thập kỷ tiếp theo hướng tới phát triển tàu và nhiều phương tiện đa năng. Khi công bố chiến lược, Đô đốc Michael Gilday - Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ - cho rằng "thế giới đang bước vào kỷ nguyên chiến tranh mới, trong đó sự tích hợp của công nghệ, khái niệm, đối tác và hệ thống (hơn cả quy mô hạm đội) sẽ quyết định chiến thắng trong xung đột".
Cuối năm 2021, Hải quân Mỹ đã phê duyệt chứng nhận sẵn sàng làm nhiệm vụ cho tàu sân bay USS Gerald R. Ford. Ảnh: Hải quân Mỹ
Kế hoạch cho rằng Hải quân Mỹ phải duy trì lực lượng răn đe hạt nhân (hiện nay là tàu ngầm mang tên lửa), kiểm soát vùng biển để ngăn chặn sự xâm phạm (với lực lượng thủy quân lục chiến đổ bộ nếu cần), đánh bại kẻ thù trong các trận chiến trên biển nếu xung đột xảy ra.
Tàu sân bay USS Gerald R. Ford (CVN-78) vượt qua vụ nổ thử nghiệm 18 tấn thuốc nổ vào tháng 8-2021 trên vùng biển Đại Tây Dương, gần Florida. Ảnh: Hải quân Mỹ
Điều đó đòi hỏi Hải quân Mỹ có kế hoạch duy trì đội tàu sân bay; tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, trang bị vũ khí hạt nhân; tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân; cũng như các tàu khu trục và khinh hạm có thủy thủ đoàn. Hải quân Mỹ cũng đang tăng tốc phát triển hơn 100 tàu robot.
Trong chiến lược mới nhất là Kế hoạch Hàng hải 2022 (công bố 26-7), Mỹ có kế hoạch mở rộng hạm đội hạm đội tàu chiến đạt mốc hơn 355 chiếc giữa thập niên 2030 và đến năm 2045 là hơn 500 chiếc. Hải quân Mỹ hình dung về một hạm đội tương lai với hơn 350 tàu có người lái và khoảng 150 tàu robot (hay còn gọi là tàu không người lái) và khoảng 3.000 máy bay. Đến năm 2045, 1/3 tàu chiến của Mỹ sẽ là tàu chiến robot. Hải quân Mỹ hiện vận hành 300 tàu chiến. Washington hy vọng rằng sự trợ giúp của công nghệ có thể làm giảm chi phí hoạt động của lực lượng Mỹ trước một hạm đội ngày càng lớn của Trung Quốc.
Nhiệm vụ đầu tiên của những con tàu robot có thể là trinh sát. Các nhiệm vụ trong tương lai của tàu robot sẽ bao gồm tiếp tế và vận chuyển, cho phép vận chuyển thêm đạn dược và hàng hóa quan trọng khác. Trong điều kiện hoạt động từ xa, một khẩu đội tên lửa trên tàu không người lái do người phụ trách ở trên một con tàu khác quyết định khai hỏa. Trong tương lai, việc nhắm mục tiêu và bắn có thể được thực hiện tự động, như bất kỳ hệ thống vũ khí và cảm biến tự động nào.
Ngày nay, tàu sân bay vẫn đóng vai trò trung tâm trong hạm đội tàu chiến. Hải quân Mỹ đang vận hành 1 hạm đội gồm 11 tàu sân bay, trong đó có 10 tàu sân bay lớp Nimitz và 1 tàu sân bay lớp Gerald R. Ford (hay lớp Ford). Tất cả đều chạy bằng năng lượng hạt nhân và thường có hàng chục máy bay trên tàu, chẳng hạn như tiêm kích F/A/-18E/F Super Hornet, tiêm kích đa nhiệm F-35C và trực thăng Seahawk.
Mười tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân thuộc lớp Nimitz của Hải quân Mỹ nằm trong những tàu sân bay lớn nhất trên thế giới. Được đặt theo tên chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai - Đô đốc Chester W. Nimitz. Tàu dẫn đầu của lớp này, USS Nimitz, được hạ thủy vào tháng 5-1975. Chiếc thứ 10 và cũng là cuối cùng của lớp tàu này, USS George H.W. Bush được đưa vào hoạt động vào tháng 1-2009.
Với lượng giãn nước khi đầy tải là 97.000 tấn, hàng không mẫu hạm dài 332,8 m USS Nimitz có khả năng chở hơn 60 máy bay. Những con tàu lớp Nimitz nói chung có thể chứa khoảng 64 máy bay và thủy thủ đoàn 500 người. Nó được cung cấp năng lượng bởi hai lò phản ứng hạt nhân và có thể đạt tốc độ trên 30 hải lý/giờ.
Danh hiệu tàu sân bay lớn nhất thế giới thuộc về lớp Gerald R. Ford của Hải quân Mỹ. Tàu sân bay đầu tiên trong lớp này, USS Gerald R. Ford, được đưa vào hoạt động vào tháng 5-2017. USS Gerald R Ford có lượng giãn nước đầy tải 100.000 tấn, sàn đáp rộng 78 m, có hệ thống phóng máy bay điện từ cũng như thiết bị bắt giữ tiên tiến. USS Gerald R. Ford có khả năng chở hơn 75 máy bay và sức chứa tổng cộng 4.539 người.

















Bình luận (0)