Ứng dụng trí tuệ nhân tạo đưa robot vào mổ não, theo dõi điện sinh lý trong phẫu thuật người bị liệt thần kinh, thay van động mạch phổi qua da cứu người bệnh tim… là những kỹ thuật y khoa đỉnh cao đang được ngành y tế TP HCM ứng dụng
---o0o---
A. (40 tuổi, ngụ tỉnh Đồng Nai) bị ung thư tinh hoàn ẩn trên bệnh nhân lưỡng giới thật thể khảm. Đây là trường hợp lưỡng giới với bộ nhiễm sắc thể khảm 46, XX/46, XY đầu tiên trên bệnh nhân bị ung thư tinh hoàn được phát hiện và phẫu thuật – hóa trị tại Việt Nam.
Nhìn bề ngoài, A. không khác gì những phụ nữ bình thường nhưng từ lúc 3 tuổi, các bác sĩ phát hiện có tinh hoàn trái trong ống bẹn. Do không can thiệp, A. sống trong mặc cảm suốt 40 năm qua với cơ thể mang 2 bộ phận sinh dục nam - nữ.
Gần đây, vùng bẹn trái bệnh nhân lớn dần, đau nhiều; phần ngực không phát triển; âm vật phì đại, có môi lớn 2 bên; không có âm đạo; không có kinh, miệng niệu đạo ngoài bình thường.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Trần Trọng Trí, Khoa Ngoại Tiết niệu Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết đây là trường hợp cực kỳ hiếm gặp, phải hội chẩn đa chuyên khoa điều trị. Bệnh nhân còn có buồng trứng bên phải và không có tử cung. Kết quả giải phẫu bệnh là bướu ác tinh hoàn 5x8cm (seminoma – một dạng ung thư tế bào mầm ở tinh hoàn, thường gặp ở nam giới trẻ tuổi).
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Vương Đình Thy Hảo, Phó Khoa Hóa trị Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh nhân may mắn được chẩn đoán, phẫu thuật và hóa trị thành công, đáp ứng tốt.
"Người bệnh nếu chẳng may gặp tình trạng này thì đừng ngần ngại khám chuyên khoa tiết niệu nhằm tránh những hậu quả nặng nề, đặc biệt là nguy cơ ung thư rất cao đối với các trường hợp bị tinh hoàn ẩn trong ổ bụng" – bác sĩ Hảo chia sẻ.
Lưỡng giới thật thể khảm là tình trạng rối loạn biệt hóa giới tính đặc điểm bởi sự hiện diện đồng thời cơ quan sinh dục nam và nữ trên cùng cá thể với tỉ suất là 1/100.000 trẻ sinh sống. Đây là dạng bất thường rất hiếm gặp, do kết quả của sự hợp nhất trứng đã thụ tinh với một thể cực của nó, hai nhân hoặc thụ tinh đôi.
Trường hợp được ghi nhận đầu tiên từ năm 1962 và đến nay có trên 50 trường hợp được ghi nhận; phát triển bướu ở lưỡng giới thật được ghi nhận là dưới 10 trường hợp.
Phẫu thuật sọ đầu điều trị các bệnh về thần kinh ở nước ta hiện nay đã là thường quy. Tuy nhiên, việc ứng dụng robot mới vào mổ não là đỉnh cao cứu người. Hiện trên thế giới có khoảng 10 nước ứng dụng robot này.
Tại TP HCM, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh vừa ứng dụng trí tuệ nhân tạo y tế đưa robot mổ não Modus V Synaptive vào phẫu thuật u não, xuất huyết não, bệnh lý thần kinh, bảo toàn cao nhất các chức năng thần kinh, não bộ cho người bệnh.


Robot mổ não vừa được Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh ứng dụng
Các ca mổ vừa thực hiện như cô gái 22 tuổi u não to như trứng vịt (6x5cm) bị liệt hoàn toàn, nam sinh viên bị u mạch máu thể hang 2,5 cm chèn não…
Thạc sĩ - bác sĩ chuyên khoa 2 Chu Tấn Sĩ, Trưởng Khoa Ngoại Thần kinh Trung tâm Thần kinh Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, cho biết các bệnh lý thần kinh - sọ não như u não, u màng não, u tuyến yên, đột quỵ xuất huyết não, phù não… thuộc nhóm nguy hiểm nhất bởi ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.
Việc phẫu thuật điều trị các bệnh lý này đặt ra cho nền y học thế giới nhiều thách thức về hiệu quả và yêu cầu hạn chế tối đa di chứng hậu phẫu. Bởi lẽ, bộ não và hệ thần kinh trung ương chi phối gần như mọi chức năng của cơ thể. Di chứng có thể gặp của phẫu thuật thần kinh là tổn thương các bó sợi thần kinh hay mô não lành, khiến người bệnh bị yếu, liệt, thậm chí tàn phế sau phẫu thuật.


"Robot mổ não là cuộc cách mạng trong ngành phẫu thuật não. Trước đây, các phương pháp mổ não kinh điển không thể thấy được các bó sợi thần kinh trước hoặc trong quá trình mổ, dẫn đến nguy cơ cao phạm phải, cắt đứt chúng hoặc làm tổn thương các mô não lành xung quanh. Hậu quả là có thể để lại di chứng nặng nề cho người bệnh.
Robot ứng dụng trí tuệ nhân tạo ở mức tinh vi, giúp khắc phục được các hạn chế nói trên. So với các phương pháp mổ não truyền thống, robot mang lại hiệu quả điều trị cao với các ưu điểm vượt trội" – bác sĩ Sĩ nhấn mạnh.
Cũng liên quan bệnh khó này, Bệnh viện Nhân Dân 115 ứng dụng theo dõi điện sinh lý trong phẫu thuật (IOM – Intraoperative Neurophysiologic Monitoring) điều trị thành công cho bệnh nhân bị liệt thần kinh lâu dài.
Bệnh viện Nhân Dân 115 ứng dụng theo dõi điện sinh lý trong phẫu thuật (IOM – Intraoperative Neurophysiologic Monitoring)
Kỹ thuật cao này do các chuyên gia Nga chuyển giao về chuyên môn, qua đó giúp bảo vệ người bệnh khỏi tổn thương thần kinh, giảm những rủi ro biến chứng trong mổ và cải thiện kết quả sau phẫu thuật.
Hai ca bệnh khó bị liệt nhiều năm được điều trị thành công là một phụ nữ (62 tuổi, ở Bà Rịa - Vũng Tàu, bị co giật nửa mặt kéo dài suốt 8 năm, đã điều trị bằng nhiều phương pháp nhưng không hiệu quả) và nam bệnh nhân (63 tuổi, ở Đồng Nai, được mổ bắt vít cột sống điều trị hẹp ống sống nhưng sau đó không đi lại nổi). Bệnh nhân được bảo đảm an toàn các cấu trúc thần kinh trong cuộc mổ.
TS-BS Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng Khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Nhân Dân 115, cho biết hệ thống IOM là phương pháp giúp bảo vệ người bệnh khỏi tổn thương thần kinh, giảm những rủi ro biến chứng trong phẫu thuật và cải thiện kết quả sau phẫu thuật.
Hệ thống này kiểm soát hoàn toàn hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên trong suốt cuộc mổ. Trên thế giới, theo dõi sinh lý thần kinh trong mổ được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, kỹ thuật này chưa ứng dụng phổ biến.
Ở lĩnh vực khó như tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM triển khai kỹ thuật mới thay van động mạch phổi qua da. Đây là giải pháp điều trị an toàn cho người bệnh sau phẫu thuật bệnh tim bẩm sinh Tứ chứng fallot.
Cảnh can thiệp thay van động mạch phổi qua da
GS-TS-BS Trương Quang Bình, chuyên gia tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược, khẳng định bệnh Tứ chứng fallot cần được phẫu thuật kịp thời để tránh các biến chứng tim mạch hoặc tử vong do thiếu oxy cấp. Tuy nhiên, ngay cả sau khi được phẫu thuật sửa chữa Tứ chứng fallot, bệnh nhi vẫn có thể đối mặt với những diễn tiến sau phẫu thuật như: hở van động mạch phổi, suy chức năng thất phải, rối loạn nhịp tim, hẹp van động mạch phổi tồn lưu hoặc lỗ thông liên thất còn tồn lưu… Các biến chứng này cần được kiểm soát, theo dõi đều đặn và can thiệp kịp thời.
Hiện có 2 phương pháp thay van động mạch phổi: phẫu thuật tim mở và can thiệp qua da. Trong đó, kỹ thuật can thiệp thay van qua da giúp người bệnh tránh được cuộc phẫu thuật tim lớn (mổ mở) để thay lại van tim, giảm các nguy cơ biến chứng do mổ mở.


Kỹ thuật cao mới thay van động mạch phổi qua da tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM
Theo TS-BS Cao Đằng Khang, Trưởng Khoa Phẫu thuật tim trẻ em - Bệnh viện Đại học Y Dược, với kỹ thuật này, bác sĩ sẽ sử dụng một khung kim loại với hình dáng giống mạch máu (stent), trên đó gắn một van tim nhân tạo, tất cả được thu nhỏ vào một chiếc ống thông.
Ống được luồn từ một mạch máu lớn ở đùi để đưa dụng cụ đến chỗ van động mạch phổi bị hẹp, hở. Thông qua hệ thống máy chụp mạch máu xóa nền, bác sĩ sẽ đưa dụng cụ đến vị trí van động mạch phổi bị hẹp, đẩy van nhân tạo ra khỏi ống thông. Sau đó, van nhân tạo bung ra và hoạt động như một van tim bình thường. Khuynh hướng chung là việc can thiệp van động mạch phổi càng sớm càng tốt, không để dẫn tới suy tim, ảnh hưởng đến chất lượng sống người bệnh.
Đến nay, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM thực hiện thành công 5 ca theo kỹ thuật mới này.













Bình luận (0)