Phước Tích là ngôi làng thứ hai sau Đường Lâm (Hà Nội) được công nhận là Di tích quốc gia làng cổ vào năm 2009. Nhiều câu chuyện ít biết về ngôi làng này nay vẫn chưa được kể.
Từ TP Huế di chuyển theo Quốc lộ (QL) 1 tầm 40 km, đến địa phận xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị rồi rẽ phải, đi tầm 5 km du khách sẽ đến làng cổ Phước Tích thuộc thôn Phước Phú, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngôi làng hiền hòa bên dòng Ô Lâu với những ngôi nhà cổ, bến nước, sân đình và không khí trong lành, êm ả.
Căn nhà ông Hoàng Tấn Minh, trưởng thôn Phước Phú, nằm sát con đường rộng nhất Phước Tích. Ông Minh là đời thứ 21 của dòng họ Hoàng tại ngôi làng cổ này. Hơn 30 năm làm trưởng thôn nên ông Minh biết từng nếp nhà, ngõ xóm ở đây. "Làng Phước Tích vào thế kỷ XIX có đến 1.900 người nhưng nay chỉ còn khoảng 300 người, trong đó người già từ 60 đến 100 tuổi tầm 200 người. Chúng tôi đang lo lắng 5-7 năm nữa thì người lớn tuổi qua đời, làng sẽ thưa vắng người ở" - ông Minh chia sẻ.
Nói về lịch sử của làng, ông Minh đầy vẻ tự hào khi dòng họ của mình được tôn vinh là có công khai canh của làng Phước Tích. Cụ tổ họ Hoàng là ngài Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi, nguyên người làng Cẩm Quyết, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An được dân làng lập miếu thờ tự ngay ở đầu làng vì là ngài khai canh. Duy Tân năm thứ 7 sắc phong: Bổn thổ khai canh Hùng Minh Hầu (tức Hoàng Minh Hùng), dực bảo trung hưng linh phò tôn thần Hoàng Quý Công. "Đặc tấn phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ - Đô chỉ huy sứ, Ty chỉ huy sứ, Quản tri phó tướng Hùng Minh Hầu" - nội dung ghi trên bia mộ của ngài Hoàng Minh Hùng .
Ông Minh cho biết gia phả dòng họ Hoàng ghi lại rằng năm 1470, dưới thời vua Lê Thánh Tông, cụ tổ Hoàng Minh Hùng cùng một người họ Phan và một người họ Đoàn từ Cẩm Quyết được lệnh vào khu vực sông Ô Lâu để khảo sát. Những người này đã đến tìm hiểu những vùng đất như Khe Mạ, Khe Trăn, Tân Tân, Ồ Ồ… rồi quyết định chọn Cồn Dương để lập làng. "Có lẽ ngài đã định hướng xây dựng kinh tế cho người dân và thấy mảnh đất này có sông nước thuận tiện cho việc giao thương, làm nghề gốm nên đã chọn nơi đây lập làng".
Thế nhưng, chỉ có "tam chánh tông" nghĩa là 3 họ, chiếu theo quy định thời bấy giờ nên nhà vua không cho lập làng. Vì vậy 3 người này trở về Cẩm Quyết thuyết phục thêm 9 họ khác như họ Lê, Hồ, Lương… để đủ "thập nhị tôn phái" rồi vào xứ Cồn Dương lập làng.
Lúc đầu làng có tên gọi là Phúc Giang như mong muốn một vùng gần sông nước nhiều phúc lộc. Và họ Hoàng được công nhận là dòng họ khai canh, 11 họ khác trong "thập nhị tôn phái" là khai khẩn.
Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, làng Phúc Giang bên bờ sông Ô Lâu thuộc tỉnh Hương Trà. Đến thời Tây Sơn, Phúc Giang được đổi thành Hoàng Giang, để nhớ đến dòng họ khai canh lập làng. Đến đời Gia Long, làng được đổi tên thành Phước Tích với ý nghĩa được tích lũy phúc đức cho con cháu. "Đến thời vua Gia Long thì làng Phước Tích có thêm 7 họ khác gia nhập nên đến nay có đến 19 họ. Chừng 200 năm, khu vực dân cư phía Bắc kinh thành Huế được di dời để lấy đất đào hồ trồng sen nên có khoảng 20 hộ dân cầm chiếu chỉ nhà vua ra Cồn Dương nhận đất. Vì vậy, làng Phước Tích phải cắt cho những người dân này một phần đất để họ thành lập làng Phú Xuân cũng thuộc thôn Phước Phú" - ông Minh cho biết.
Làng Phước Tích có diện tích 31,7 ha, trong đó chỉ có 1,8 ha giao cho 18 hộ để trồng hoa màu như cây đậu, cây mè nhưng mảnh đất ở xứ Cồn Dương này mỗi lần lũ về đất cát bồi đắp khá dày, cây khó phát triển nên người ta chẳng mặn mà. Sau khi lập làng, để ổn định cuộc sống cho người dân thì ngài khai canh Hoàng Minh Hùng đã đưa nghề làm gốm về.
Nghề gốm ở đây nổi tiếng một thời và được dân gian truyền tụng: "Om Phước Tích ngon cơm hoàng đế/Sen Hà Trì quý thế Phú Xuân". Ông Minh nói rằng thời cha ông của mình nghề này rất thịnh nên nhà cửa xây dựng khang trang, con cháu đề huề. Khi đó sáng sớm 4 người trên một chiếc thuyền xuôi dòng Ô Lâu về xã Hải Dương của tỉnh Quảng Trị đào ruộng lấy đất sét. Đến 4 giờ chiều họ mới lên tới Phước Tích. Đội ngũ làm gốm cũng khá hùng hậu, có nhóm phụ trách gánh đất từ thuyền lên lò, nhóm đạp đất, nhóm xên chuốc… 12 lò gốm lúc nào cũng đỏ lửa, 12 bến nước cứ tấp nập cảnh thuyền bè vào ra để bốc hàng. "Cuộc sống khá giả nên nhiều gia đình thuê thợ mộc ở làng Mỹ Xuyên qua làm hàng chục nhà rường, để lại di sản quý đến bây giờ. Nhưng rồi đến những năm 1990, khi đồ dùng nhựa ra đời khá tiện lợi thì hàng gốm Phước Tích ít người mua, mai một dần" – ông Minh đượm buồn.
Vậy, ai là ông tổ nghề gốm Phước Tích? Chúng tôi đã gặp nhiều bô lão ở Phước Tích nhưng nhận được cái lắc đầu. Ông Minh nói rằng những dấu tích dựng làng nay vẫn còn như quần thể chùa Phước Bửu, đình làng Phước Tích mà họ Hoàng khi vào khai canh ở đó. Kế tiếp là Miếu Đôi, Văn Thánh…
"Các cụ kể rằng lúc đầu thờ ngài khai canh ở cuối làng nhưng nhà cửa người dân thường gặp hỏa hoạn. Các bô lão ăn chay nằm đất đi coi thầy rồi quyết định đưa ngài về thờ đầu làng thì dân làng an cư ổn định, con cháu hạnh phúc mà sinh sôi nảy nở. Đến nay dân làng thờ ngài Hoàng Minh Hùng 2 chỗ để tôn vinh công lao của ông nhưng tuyệt nhiên không nhắc tới ngài bổn nghệ và chúng tôi hoàn toàn không biết gì về ngài. Các vị lớn tuổi nghĩ rằng ngài bổn nghệ khá giỏi nghề gốm nên không muốn danh tiếng của mình khắc ghi" - ông Minh chia sẻ.
Trong "thập nhị tôn phái" ở Phước Tích hiện giờ, nếu so về sự "hùng hậu" thì "nhất Lê nhì Lương". Đối với họ Lê thì ông tổ là Lê Trọng Yêu làm đến chức tri huyện, được vua Thành Thái phong thần; cụ Lê Trọng Ý đậu 2 tú tài và cử nhân, thời vua Tự Đức làm đến chức Thị lang trung công bộ gian phòng sứ. Đến nay dòng họ Lê tại Phước Tích đã đến đời thứ 20 với hơn 400 đinh (người), trong đó có nhiều người học hành đỗ đạt, thành công trong cuộc sống.
Sau cơn bão số 4 (Noru), chúng tôi về làng Phước Tích khi con nước của dòng Ô Lâu đã hạ. Con cháu của dòng họ Lê dùng thuyền vượt sông qua xứ Hà Cát nằm ở phía đối diện để kiểm tra mồ mã cha ông mình có bị hư hỏng gì hay không để sửa chữa.
Ông Lê Trọng Cờ (93 tuổi), trưởng họ Lê ở làng Phước Tích, cho biết mỗi năm làng Phước Tích có 3 việc cúng kỵ lớn, trong đó có ngày 16 tháng giêng cúng ở bãi tha ma Hà Cát để cầu mong những vong linh của các nấm mồ vô chủ bớt lạnh lẽo.
Sống Cồn Dương, thác Hà Cát - là quy định "bất thành văn" của người làng Phước Tích từ xưa nay. Người làng nửa đùa nửa thật rằng dòng Ô Lâu ngăn cách giữa Hà Cát với Cồn Dương là ranh giới giữa sống và chết. Vì khi sống thì được an cư ở Cồn Dương rồi lúc chết được dân làng kết thuyền bè vượt sông Ô Lâu sang Hà Cát chôn cất.
Ông Lê Trọng Cờ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện mà các bô lão làng Phước Tích truyền tai cho những đời sau về giao kèo của 3 người họ Phan, họ Hoàng và họ Đoàn khi mới vào Cồn Dương lập làng. Đó là nếu ai chết trước thì được chôn ở xứ Cồn Dương, người chết sau phải đi chôn chỗ khác. Và ông Đoàn Phước Mỹ qua đời trước nên được người làng chôn cất ngay trên mảnh đất Cồn Dương. Còn ngài khai canh Hoàng Minh Hùng sau khi chết thì được chôn cất tận Mỹ Kỳ, cách làng Phước Tích tầm 15 km. Vì vậy, ngoại trừ ngài Đoàn Phước Mỹ thì tất cả con dân làng Phước Tích sau khi chết đều được chôn cất tại Hà Cát.










Bình luận (0)