Hai huyện bị nặng nề nhất trong trận lụt năm đó là Hiệp Đức và Nông Sơn bây giờ.
Những làng mạc bị xoá sổ vốn là các làng quê yên ả nằm hai bên dòng sông Thu Bồn. Người dân dựa vào chính phù sa của sông để canh tác, trồng hoa màu làm kế sinh nhai. Không ai ngờ trận cuồng phong thịnh nộ năm đó, dòng sông vốn yên bình trở thành thác dữ, cuốn phăng tất cả.
Mùng 5 tháng 10 năm Giáp Thìn 1964, làng Cà Tang (nay là thị trấn Trung Phước, huyện Nông Sơn) nhộn nhịp bởi người người từ bên kia sông Thu Bồn - mỏ than Nông Sơn qua lại, tổ chức bài chòi khi nước vừa rút sau trận lụt đầu.
Chiều tối cùng ngày, mây đen vần vũ kéo đến và mưa ầm ầm trút xuống. Nước từ thượng nguồn đổ về. Đêm đến sáng mùng 6, nước lụt đã cuốn trôi gần như hoàn toàn nhà cửa của làng Cà Tang, duy nhất còn một nóc nhà của ông Thái Sương - một thầy thuốc Bắc có tiếng. Ngôi nhà này khá kiên cố và được bao bọc bởi nhiều cây cối.
Khoảng 480 người làng Cà Tang bị lũ cuốn chết và mất tích. Đó là con số mà ông Huỳnh Râm (SN 1948, người dân làng Cà Tang) nhớ rõ khi chính quyền công bố sau trận lũ.
Cà Tang chỉ là một trong những làng bị thiệt hại nặng nề bởi trận lụt năm đó. Kinh hoàng nhất phải kể đến là làng Đông An (nay là xã Ninh Phước, huyện Nông Sơn) với tổng cộng 1.481 người chết. Cả làng chỉ còn 19 người sống sót.
Ngược dòng sông Thu về làng Thạch Bích (nay là xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn), hơn 114 người chết, chiếm hơn một nửa dân làng.
Tiếp lên đó là các làng An Toàn (nay là làng Quảng Nghĩa, xã Sơn Thuận, huyện Hiệp Đức) khoảng 473 người chết, số còn sống chỉ độ chục người thuộc 4 đến 5 hộ dân. Những con số trên không chính xác đến từng chi tiết nhưng số người chết có thể hơn như thế.
Trong cuốn lịch sử Đảng bộ huyện Quế Sơn (giai đoạn 1954-1975 – lúc này Nông Sơn là vùng Tây của huyện Quế Sơn) có ghi rằng đây là trận lụt lớn chưa từng có.
Hầu hết các xã, thôn hai bên sông Thu Bồn đều bị thiệt hại nặng về tài sản và nhân mạng. Trong đó nhân dân Quế Sơn thiệt hại nặng nhất tỉnh. Các làng An Toàn, Bình Kiều, Bình Yên, Thạch Bích trôi toàn bộ tài sản, nhà cửa, hoa màu. Tổng cộng có hơn 5.000 người chết và mất tích. Các làng khác ven sông cũng bị ngập nước, gây thiệt hại nhiều về tài sản và một số người chết.
Những ngày đầu tháng 10 Âm lịch, sáng sáng, ông Huỳnh Râm (SN 1948) đi bộ từ nhà ra nhà thờ của làng Cà Tang, khoảng hơn 100 m. Nhà thờ được xây dựng khá trang nghiêm, nằm ở đầu làng. Đây là nơi mà dân làng thường đến thắp nhang, tưởng nhớ đến hơn 480 người chết trong trận lụt năm Thìn.
Mùng 5 tháng 10 là dịp cả làng tổ chức giỗ chung cho những người xấu số. Vì thế cứ gần đến dịp này là ông Râm thường xuyên tới nhà thờ, quét dọn sạch sẽ từ trong ra ngoài, tỉ mỉ lau từng nồi hương. Chiều chiều, ông đến quét dọn một lần nữa, thắp hương và mở đèn lên để nhà thờ ấm cúng hơn.
59 năm trước, ông Râm 16 tuổi. Ông nội vốn là địa chủ nên cơ ngơi nhà ông khá bề thế và rộng rãi. Căn nhà 3 gian với tổng cộng 80 cây cột to mà một người ôm không xuể.
Từng giây từng phút của ngày định mệnh đó ông vẫn nhớ như in.
18 giờ, nước bắt đầu tràn vào nhà. Những nhà thấp khi bị lụt thì dắt díu nhau tới chỗ cao hơn. Nhà ông Râm có khoảng hơn 100 người trú ngụ. Nước lớn như thổi – đó là cách người Quảng miêu tả về nước lụt. Nghĩa là khi đó, nước dâng cao rất nhanh. Càng về khuya, nước càng dâng cao, chảy xiết. Người trú trong nhà bắt đầu leo lên trính (cây gỗ xuyên ngang hàng cột để giữ sườn nhà – PV).
0 giờ, họ dỡ mái ngói, leo lên nóc nhà.
Giữa khuya, dòng nước chảy mạnh hơn, cuồn cuộn cuốn theo nhiều cây gỗ lớn từ thượng nguồn về san phẳng các nóc nhà. Ngôi nhà ông Râm cũng không ngoại lệ. Mới đầu, 1 gian bị cuốn trôi. Sau đó đến gian thứ 2 và thứ 3. Tất cả chỉ diễn ra trong tích tắc. Tiếng la hét, kêu cứu vang vọng trong không trung. Bầu trời tối đen như mực. Không ai nhìn thấy ai, hàng chục người trên các nóc nhà trôi theo dòng lũ dữ.
Ông Râm may mắn dạt vào cây xoài sát nhà và cố leo lên chấn ba ngồi ở đó. Ông không mấy sợ hãi vì nghĩ rằng mình đã an toàn. Ngồi ở đó tầm 20 phút, tiếng la khóc của những người bị trôi trong lũ dữ khiến ông ám ảnh, bất lực. Ông nghĩ chắc người thân mình đều đã chết cả rồi.
Một chiếc ghe chở than đi ngang qua cây xoài, ông gọi lớn. Trên ghe có 2 vợ chồng và 1 con nhỏ. Họ đưa ông từ ngọn xoài xuống rồi cùng chèo ghe vào trú ẩn sát núi Khương Nam. Ông Râm thoát chết. Sau lụt, ông trở về gặp được mẹ cùng 2 chị. Còn lại đều bị lũ cuốn trôi.
Ông Râm nói rằng lụt lớn chưa từng thấy nhưng một phần do người dân chủ quan. Cứ nghĩ rằng cùng lắm tới chỗ này, cùng lắm tới chỗ kia chứ không ai nghĩ nó dữ dội đến mức cuốn trôi tất cả.
Từ Cà Tang đi về thượng nguồn sông Thu là làng Đông An trù phú nằm ở bãi bồi ven sông. Ngôi làng này bị xoá sổ hoàn toàn sau trận lụt.
Ông Hồ Ngọc Tranh (SN 1945) được xem là cao niên của làng, có nhiệm vụ giữ chìa khoá nhà thờ lụt. Căn nhà ông Tranh ở hiện tại cách nền nhà cũ không xa, nằm gần sân bóng. Chỉ có điều, cốt nền nhà mới cao hơn, lưng tựa vào núi. Cuộc di dời này được ông Tranh và nhiều người trong làng thực hiện theo chỉ đạo của Bí thư xã từ trước năm 1998.
So với các làng khác, Đông An không thấp lụt. Nhưng khi nước lớn, làng như ốc đảo. Bốn bề là nước. Vì vậy mà lụt năm Thìn, làng Đông An hứng chịu tang thương nhiều nhất.
Cũng như Cà Tang, tối mùng 5, người ở nhà thấp dắt díu đến nhà cao tránh trú. Rồi tất cả cùng bị lũ dữ cuốn trôi. Ngôi chùa có hơn 100 người bấu víu cũng trôi theo dòng nước. Không còn một nóc nhà nào cả. Đông An trắng xoá trong nước lũ từ 0 giờ mùng 5 đến 1 giờ sáng mùng 6.
Thê thảm là cảnh tượng ông Tranh thuật lại. Bởi người già, trẻ con cùng lúc ngã xuống dòng nước, mất hút.
Bà Quyển, người trong làng, bồng trên tay đứa cháu nội mới vài tháng, bám chặt vào cành cây. Đứa cháu chết cứng vì lạnh vẫn nằm chặt trong tay bà. Mãi đến khi đuối sức, bà buông tay còn lại, hai tay ôm cháu phó thác theo dòng nước dữ. Câu chuyện này, những người còn sống ở Đông An, không ai quên được.
Thời khắc nóc nhà bị cuốn trôi, ông Tranh vớ được một cây to và bám vào đó. Cả người ông nhào lộn trong dòng nước y như một con dế. Lúc sau, ông bám được vào một nóc nhà khá lớn. Cách khoảng 5-7 m, ông nghe tiếng la hét quen thuộc.
- "Đứa nào đó, phải Thanh không?"
- "Em đây anh ơi!"
Đoạn đối đáp ngắn ngủi giữa dòng nước dữ. Ông Tranh nhận ra người đang trôi phía trước là em gái ruột, bà Hồ Thị Kim Thanh (SN 1948).
May mắn thay, cả hai anh em ông cùng trôi xuống đến Lai Nghi (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam bây giờ) thì tấp vào bờ. Anh em ôm nhau mừng tủi. Họ được đưa vào một ngôi nhà gần đó và nghe nói phía trong nhà cũng có một người dân Đông An.
Vừa vào nhà, ông Tranh thấy chị dâu mình, khi đó đang mang bầu. Mấy chị em ôm nhau khóc. Tháng Chạp năm đó, đứa bé chào đời, được đặt tên là Phước.
Nhà ông Tranh may nhất làng. Ngoài 3 người trên, anh trai ông là Hồ Ngọc Châu cũng trôi đến làng Khánh Bình thì được cứu. Còn lại mẹ, các anh chị em khác và cháu chắt thì đều bị lũ cuốn mất xác.
Phần lớn gia đình khác trong làng, không còn ai sống sót. Một người trong họ với ông Tranh là ông Sáu Bình, mất tất cả người thân. Ông Sáu Bình khi ấy đi học ở Tam Kỳ. Trở về nhà, lũ đã cuốn không còn một ai. Ông Bình thành trẻ mồ côi năm chưa đến 10 tuổi.
Mùng 8 nước rút dần, người dân Đông An còn sống bắt đầu trở về. Cảnh tượng trước mắt họ hết sức hãi hùng. Làng mạc không còn nữa. Nóc nhà, cây cối đều đã mất dấu. Khắp nơi là màu trắng đục của bùn non. Xác người trương phình, bốc mùi nằm la liệt.
Sau này, một đoàn từ thiện của nhà chùa mang xăng đến thiêu các xác chết. Những ngày đầu, khung cảnh hết sức thê lương. Người còn sống dựng lều, ngủ trên xác chết. Vậy mà, 19 người đã cùng nhau vượt qua khó khăn. Họ ăn gạo mốc, bắp thối sống qua ngày. Đến giờ, làng Đông An đã trù phú trở lại.


























Bình luận (0)