Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, vợ vua Lê Thần Tông, được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc thời Lê - Trịnh. Trải qua mấy trăm năm, bảo vật quốc gia này vẫn còn như mới.
Pho tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là hiện vật nguyên gốc và độc bản, niên đại thế kỷ XVII, được rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, mỹ thuật đánh giá rất cao. Hiện vật này được công nhận bảo vật quốc gia từ năm 2013.
Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595-1660) là con gái Thanh Đô vương Trịnh Tráng. Trước khi được gả cho vua Lê Thần Tông, Quận chúa Ngọc Trúc là vợ Cường Quận công Lê Trụ. Lê Trụ lập mưu tạo phản nhưng bất thành, bị bắt giam.
Năm 1630, chúa Trịnh Tráng "gả ép" con gái Ngọc Trúc cho vua Lê Thần Tông, cháu họ của Lê Trụ. Khi ấy, bà Ngọc Trúc đã 36 tuổi và có 4 người con với Lê Trụ. Nhiều đại thần dâng sớ can nhưng vua không nghe, còn nói rằng "Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy" và lập bà làm hoàng hậu.
Lúc đó, bà Ngọc Trúc hơn nhà vua 12 tuổi. Mối quan hệ giữa bà và vua Lê Thần Tông cũng rất đặc biệt. Với tư cách là vợ Cường Quận công Lê Trụ, bà là bác dâu của vua; còn với tư cách là con gái chúa Trịnh Tráng, bà là chị họ của vua.
Là chính cung hoàng hậu nhưng bà Ngọc Trúc và vua Lê Thần Tông không có con chung. Năm 1643, khi vua Lê Thần Tông truyền ngôi cho con - Hoàng Thái tử Duy Hựu (vua Lê Chân Tông), bà Ngọc Trúc được tấn tôn hoàng thái hậu. Về sau, bà theo Hòa thượng Chuyết Chuyết xuất gia tu hành tại chùa Phật Tích và Bút Tháp.
Đáng chú ý, vua Lê Thần Tông được cho là còn cưới 5 bà vợ nữa, mỗi người thuộc một dân tộc: Vợ thứ 2 người Xiêm (Thái Lan), vợ thứ 3 người Mường, vợ thứ 4 người Trung Quốc, vợ thứ 5 người Lào. Về người vợ thứ 6 của vua, cuốn "Tường trình về Đàng Ngoài" của linh mục người Pháp Alexandre de Rhodes có đoạn cho biết bà là Orona, con gái phó toàn quyền Hà Lan tại đảo Đài Loan.
Hoàng hậu Ngọc Trúc còn được biết đến là "bà chúa Kim Cương". Bà giỏi thơ phú và là người biên soạn cuốn từ điển Hán - Nôm "Chí Nam Ngọc Âm giải nghĩa" - bộ bách khoa thư đầu tiên của Việt Nam. Bộ sách này diễn giải bằng văn vần, thể lục bát, dài 3.000 câu với 24.000 chữ, chia làm 40 chương về thiên văn, địa lý, nhân luận, điển lễ...
Linh mục Alexandre de Rodes từng viết về Hoàng hậu Ngọc Trúc: "Bà rất thông chữ Hán, giỏi về thơ. Chúng tôi gọi bà là Catêrina vì bà giống thánh nữ về nhiệt tâm cũng như đạo hạnh, về những đức tính, tinh thần cũng như sang trọng về dòng họ". Vai trò của bà trong lịch sử đã được nhiều sách sử đề cập, như "Đại Việt sử ký toàn thư", "An Nam chí lược", "Việt Nam sử lược", "Kim Tỏa thực lục"...
Theo các tư liệu văn bia, một lần về xứ Thanh, ngưỡng mộ cảnh đẹp vùng núi Kỳ Lân, vua Lê Thần Tông đã sai dựng Đại Bi tự cạnh đó để thờ Phật, thờ mình cùng 6 người vợ. Tuy nhiên, cũng có tư liệu nói rằng chùa này do vua Lê Huyền Tông dựng để thờ vua cha (Lê Thần Tông), hoàng thái hậu cùng các phi tần của cha.
Ở chùa Mật Sơn (tức Đại Bi tự), trong 6 pho tượng nhập thần của 6 người vợ vua Lê Thần Tông, Hoàng hậu Ngọc Trúc ngự trên tòa sen, còn 5 bà kia đội vương miện trong tư thế tọa thiền. Năm 1959, 5 pho tượng các phi tần của vua Lê Thần Tông được rước về đền Nhà Lê, cách chùa Mật Sơn hơn 1 km. Riêng tượng Hoàng hậu Ngọc Trúc được đưa về Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trưng bày và nghiên cứu vì đây là pho tượng đặc sắc nhất về nghệ thuật điêu khắc thời Lê - Trịnh.
Tượng Hoàng hậu Ngọc Trúc được thể hiện trong trang phục hoàng gia, đang ngồi thiền định. Bà đội bảo quan, trước trán có hình tượng Phật - loại mũ dành cho tượng Quan Âm Bồ tát; trên cổ đeo chuỗi tràng hạt.
Dù đội mũ mang dấu ấn Phật giáo rõ nét nhưng trang phục trên tượng Hoàng hậu Ngọc Trúc cho thấy xuất thân cao quý của bậc mẫu nghi thiên hạ.
Gương mặt Hoàng hậu Ngọc Trúc tròn đầy, phúc hậu, mang nét quý tướng theo quan niệm Phật giáo, thể hiện lòng từ bi, trí tuệ, sự kiên định. Ngôn ngữ tạo hình pho tượng này là sự kết hợp hài hòa của nghệ thuật Phật giáo mang tính tượng trưng với điêu khắc chân dung tả thực.
Theo hồ sơ di sản của Cục Di sản Văn hóa, tượng Hoàng hậu Ngọc Trúc cao 111 cm. Pho tượng được tạc nguyên khối, mô tả hình ảnh bà Ngọc Trúc trong tư thế chân xếp bằng kiểu kiết già toàn phần, một tay ngửa ra đặt trong lòng đùi, một tay giơ ngang ngực kết ấn Vô úy. Thế tay này tượng trưng cho sự phổ độ chúng sinh, đồng thời thể hiện tâm Phật của nhân vật được tạc.
Chiếc vương miện đội trên đầu Hoàng hậu Ngọc Trúc được chạm khắc tỉ mỉ với nhiều lớp khác nhau. Vành ôm sát đầu chạm vân xoắn. Vành thứ hai chạm các cụm sen nổi cao. Vành trên cùng chạm thủng hình hoa sen và vân lửa - đặc trưng cho điêu khắc thế kỷ XVII. Phía trước trán, đỉnh của vành mũ được chạm hình vòng cung, trong có tượng A Di Đà ngồi tọa thiền. Đây là biểu tượng thường thấy trên các pho tượng Quan Âm và là dấu hiệu đặc trưng cho việc bà Ngọc Trúc là người quy y Phật pháp.
Sử sách có ghi chép về những lần định mẫu y phục của triều đình giai đoạn 1653-1664 nhưng không đề cập cụ thể về trang phục của hậu cung. Dựa trên trang phục của bà Ngọc Trúc và trang phục của các hoàng hậu, các chuyên gia phần nào hiểu rõ hơn về trang phục hậu cung vua Lê thế kỷ XVII.













Bình luận (0)