Trong 300 năm tồn tại của triều Mãn Thanh, pháp trường Thái Thị Khẩu bận rộn nhất vào thời kỳ đầu và thời kỳ cuối.
Thời kỳ đầu là truy cùng diệt tận những hoàng thân quốc thích, di thần của triều Minh để trừ hậu hoạn; thời kỳ cuối – nhất là giai đoạn Từ Hy thái hậu nhiếp chính – Trung Hoa rối ren, thù trong giặc ngoài, các cuộc khởi nghĩa, tổ chức, hội đảng nổi lên khắp nơi từ Thái Bình thiên quốc, Nghĩa Hòa đoàn cho đến Chính biến Tân Dậu, Biến pháp Duy tân, Canh Tý sự biến, khởi nghĩa Niệm Quân, Vũ Xương….
Triều đình tăng cường trấn áp khốc liệt, cảnh đầu rơi máu chảy trải từ chiến trường đến pháp trường. Cho đến năm 1911, cách mạng Tân Hợi thành công, Trung Hoa dân quốc ra đời, pháp trường Thái Thị Khẩu đóng cửa vĩnh viễn và những tay đao phủ cuối cùng cũng lang thang vì thất nghiệp…
Là một trong những đao phủ cuối cùng của triều Thanh, khi những đội hành quyết cầm súng đạn thay thế cho những đao phủ thủ cầm quỷ đầu đao, Đặng Hải Sơn chấm dứt sự nghiệp sau khi đã có trên dưới 300 cái đầu rơi dưới tay mình.
Đao phủ là một nghề cổ xưa và bí hiểm, rất ít tài liệu đề cập đến. Tháng 1-1925, tờ "Đại Công Báo" tỉnh Hồ Nam - Trung Quốc có bài viết về Đặng Hải Sơn – đao phủ cuối cùng triều Thanh, lúc này đã ngoài 60 tuổi.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa có một văn bản viết về một đao phủ với tên họ rõ ràng. Dù là một lực lượng đặc biệt nhưng đao phủ hầu như không được nhắc đến trong các hình án, công án các triều đại, duy nhất có báo cáo của quan Tuần phủ Giang Ninh vào tháng 6 năm Thuận Trị thứ 6 đời Thanh về việc "gọi quái tử thủ (đao phủ) áp giải trọng phạm Tôn Tỏa Chân đến ngả đường Tứ Bài Phường để chém đầu thị chúng".
Theo nghề đao phủ, Đặng Hải Sơn cũng như các đồng nghiệp khác đều xuất thân nghèo hèn, mồ côi, thất học nhưng bù lại có sức khỏe tốt, chịu gian khổ, gan góc, chẳng sợ máu me, ma quỷ. Đặng từng ban đêm dám vào ngôi nhà "quỷ trạch" mà ai cũng sợ để nằm suốt đêm xem ma quỷ thế nào.
Thời nhà Thanh, đao phủ là nghề có thu nhập cao, hoàn thành một cuộc xử trảm có thể nhận được số tiền tương đương thu nhập gần nửa năm của một lao động trung bình (giai đoạn Từ Hy nhiếp chính là 4 đồng Tây dương cho mỗi đầu người bị chém), được miễn lao dịch trong huyện phủ, lại còn được người nhà phạm nhân đút lót để xuống tay cho "ngọt", không gây đau đớn, hoặc xin lưu chút da cổ tử tù để dễ may lại cho liền lạc. Nhưng muốn trở thành đao phủ chuyên nghiệp thì không phải đơn giản, phải có lão tiền bối nhận làm đệ tử để truyền nghề, huấn luyện đao pháp, cách trấn áp tâm lý, nội quy pháp trường…
Đặng Hải Sơn lọt vào mắt xanh của đao phủ tiền bối Đồng Thiệu Cơ, được làm lễ bái sư. Tiếp đó là quá trình tập luyện gian nan từ cách mài đao, rút đao, vung đao, xuống đao, thâu đao. Hằng ngày, Đặng Hải Sơn luyện chém vào những trái bí đao lớn có vẽ vòng tròn, mỗi nhát chém phải nhanh, mạnh, chính xác theo đúng vạch đã vẽ. Ban đêm luyện chém vào đầu que nhang đang cháy, rồi chém vào cây gỗ, đầu súc vật… Đồng sư phụ cho xem những bức vẽ quang cảnh hành quyết để đệ tử quen dần trước khi ra thực tế pháp trường.
Do thói quen nghề nghiệp, đao phủ thường có thói quen khiến người ta rờn rợn là luôn đi phía sau và luôn nhìn vào gáy người khác. Ở pháp trường, đao phủ thường vòng phía sau phạm nhân, xuất kỳ bất ý vung đao chém vào khe đốt sống cổ là nơi hiểm yếu nhất. Nếu kỹ thuật không thuần thục thì dễ chém nhầm vị trí, rất khó hạ thủ cho gọn vì cổ người tuy nhỏ nhưng tập trung nhiều gân, xương cứng.
Ở pháp trường đao phủ phải thể hiện một cách hoàn hảo nhất để không làm trò cười cho đông đảo người xem, phải đạt đến mức "cương đao nhất vận, nhân đầu lạc địa" – đao vừa vung lên, đầu rơi xuống đất. Nhưng có những trường hợp đao phủ phải theo mật lệnh, kéo dài thời gian chém để làm cho tử tù chịu đau đớn. Như năm 1898 khi Biến pháp Mậu Tuất thất bại, vua Quang Tự bị giam, có 6 người (Lục quân tử) bị Từ Hy xử chém tại Thái Thị Khẩu, trong đó Đàm Tự Đồng được xem là cầm đầu nên tại hình trường ông bị đao phủ dùng đao cùn chém đến 28 nhát mới cho đứt đầu.
Người ta thường hình dung đao phủ có hình dạng khó coi, sát khí đằng đằng, mắt lộ hung quang, lạnh lùng tàn khốc, đó là một thực tế xuất phát từ tâm lý trấn áp tội nhân, thể hiện mình là đại diện vương pháp, luôn tâm niệm rằng "dưới đao toàn là kẻ đáng chết".
Trước và sau khi đi xử trảm, đao phủ phải dâng hương, rượu trước bàn thờ Tổ sư gia được xem là ba ông tổ của nghề đao phủ gồm: Đại lão gia là Phàn Khoái – võ tướng nhà Hán, Nhị lão gia Trương Phi – hổ tướng nước Thục thời Tam quốc, Tam lão gia là Ngụy Trưng – thừa tướng nhà Đường. Sở dĩ thờ như vậy vì theo lý giải của giới đao phủ thì Phàn Khoái, Trương Phi đều là tướng võ xuất thân từ nghề đồ tể, còn Ngụy Trưng là tướng văn, mưu sĩ của Đường Thái Tông nhưng có năng lực xuất hồn đi chém đầu con rồng ở sông Kinh vì tội làm sai lệch lượng mưa của Ngọc đế.
Đao phủ thường uống rượu tráng đảm và phun rượu vào ngọn đao trước khi hành quyết. Đây là loại rượu đặc biệt được chế từ nước tiểu trẻ em (đồng tử niệu), giọt sương móc, máu chim quạ, sữa bò và quả da rắn (xà quả, salacca, họ Cau) có tác dụng trấn quỷ trừ tà, không để oan hồn tử tội bám theo quấy rối.
Sau khi hành quyết xong, đao phủ phải đi thẳng về nha môn, tuyệt đối không ngoái đầu nhìn lại hay mở miệng nói chuyện. Đến nha môn thì nằm úp xuống nhờ lính lệ cầm roi tre đánh nhẹ từ đầu tới chân ngụ ý sám hối việc sát sinh.
Sau khi thành thục các kỹ năng, trước khi làm lễ hạ sơn, Đặng Hải Sơn được sư phụ dặn rằng: "Giết đến số 99 thì phải dừng tay". Đây là quy ước truyền trong giới đao phủ, chém đến 99 người thì giải nghệ, nếu không sẽ bị báo ứng, đoạn tử tuyệt tôn. Nhưng Đặng Hải Sơn không nghe theo, chém đến hơn 300 đầu người. Kết quả là khi Thái Thị Khẩu đóng cửa, Đặng lang bạt về Trường Sa, Hồ Nam, cũng có làm đao phủ ở đây một thời gian rồi lang thang, không nơi nương tựa, cuối cùng bệnh chết nơi xó chợ, không vợ không con.







Bình luận (0)