Trên thế giới, hầu như các quốc gia cổ đại khi thi hành án tử hình đều tiến hành vào ban ngày. Các quốc gia châu Âu trước thế kỷ 20 cũng phổ biến thi hành tử hình vào lúc mặt trời mọc ở chỗ đông người nhằm mục đích răn đe chứ không phải chịu ảnh hưởng bởi các thuyết âm hồn, dương khí... như Trung Quốc và một số nước châu Á.
Văn hóa truyền thống Trung Quốc chú trọng việc "báo ứng". Được "phúc báo" là do tích lũy việc thiện, bị "ác báo"là do làm việc ác. Do rất lưu tâm vấn đề "hương hỏa truyền thừa, sợ "đoạn tử tuyệt tôn" nên "báo ứng" là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi con người.
Sau khi Phật giáo truyền vào, thuyết "nhân quả luân hồi" kết hợp với quan niệm "báo ứng" càng thêm ăn sâu trong dân chúng. Ngạn ngữ nói "thiện có thiện báo, ác có ác báo, không phải không báo, do giờ chưa tới", đó là quan niệm điển hình nhất và nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý cũng như quy trình thi hành án tử hình.
Theo "Công môn yếu lược"- sách hướng dẫn chốn công đường của Trường Tùy đời Thanh, đương thời khi phán quan ký tên vào lệnh chấp hành tử hình, viên thư lại thuộc Hình bộ sẽ dâng ngược tấm thẻ bài ghi họ tên tử tội lên, phán quan cầm bút đưa lên, viên thư lại sẽ sẽ thuận thế đẩy phần họ tên tử tội lên đụng vào ngấn bút như tình cờ, đây được coi là chiếc bút ấy phát lệnh chấp hành án tử chứ phán quan không trực tiếp phụ trách, sau đó vứt cây bút ấy đi, không dùng nữa.
Còn quan giám trảm coi việc thực hiện tử hình thì phải mặc quan phục, đội nón lớn có bọc vải đỏ để tránh tà. Đao phủ trước khi ra tay luôn kêu lớn "Ác Sát đến rồi!" là để làm cho hồn người chết nhớ rằng tính mạng mình là do thần Ác Sát lấy đi, đừng quấy rầy đao phủ.
Sau khi hành hình xong, tất cả phải đến miếu thành hoàng đốt hương để tránh oan hồn ám ảnh. Kiệu quan về phủ phải đốt pháo, lính vệ hàng ngũ nghiêm chỉnh, vũ khí sẵn sàng để trấn áp tà khí... Có thể thấy, trong hình pháp Trung Hoa, sắc thái tôn giáo không nặng lắm, nhưng trên thực tế nhân tố "hồn ma" cũng như quan niệm "báo ứng" vẫn luôn hiện diện trong sinh hoạt thường ngày. Thời điểm hành hình "giờ ngọ ba khắc" thường được sử dụng trong tác phẩm văn học là ví dụ điển hình nhất về vấn đề này.
Cuối đời Thanh, mê tín đã ăn sâu đến cùng cực. Mỗi khi hành hình vừa xong, cả đám người ùa tới chỗ thi thể tử tù tranh nhau giật những đoạn dây trói đem về làm dây buộc trâu bò, nghe nói làm cho chúng không bị kinh hoảng. Nhiều người bỏ nhiều tiền ra mua chiếc bút lông chấm châu sa mà quan giám trảm dùng "câu quyết"- dấu móc như chữ "V" trên thẻ bài ghi tên họ, tội trạng phạm nhân trước khi hành hình. Bút này nghe nói có thể dùng trấn trạch, trừ tà, ma quỷ không dám phạm…
Ý thức tàn nhẫn của con người cũng thông qua hành vi tàn nhẫn mà phát triển hết mức.
Tác phẩm nổi tiếng "Thuốc" của nhà văn Lỗ Tấn (1881-1936) miêu tả một hiện trạng đáng sợ: Dùng bánh bao tẩm máu người bị hành hình để chữa bệnh.
Điều này có thể bắt nguồn từ việc trước kia thân nhân của tử tù thường dùng bánh bao nhờ đao phủ khi chém đầu lìa khỏi cổ thì nhét bánh vào chặn không cho máu tràn ra nhiều khiến âm hồn không tan, bánh bằng bột nên thấm máu rất nhanh. Về sau nhiều người mê tín, lạc hậu tin rằng máu người có thể chữa được bệnh "Sái" – bệnh lao phổi, phổi kết hạch nên đua nhau mua bánh bao tẩm máu (nhân huyết man đầu), thậm chí mang cả con nhỏ đến pháp trường mua ăn tại chỗ.
Trước Lỗ Tấn, nhà thơ, nhà tản văn nổi tiếng đời Thanh là Viên Mai (1716-1797) viết "Tử bất ngữ" có truyện "Trả máu cho ta" cũng nói đến việc máu người chữa bệnh Sái.
"Thuốc" của Lỗ Tấn có hai tầng ý nghĩa: "Bánh bao tẩm máu người" là phương thuốc ngu muội, vô dụng, vô nhân, con trai lão Thuyên ăn rồi cũng chết; tìm phương thuốc để chữa căn bệnh u mê, lạc hậu, thờ ơ với thời cuộc của đám đông thời bấy giờ.
Lỗ Tấn từ năm 1909 ở tại hội quán Thiệu Hưng, nằm trong khu Thái Thị Khẩu, ông đã viết "Gào thét", "A.Q chính truyện" ở đây, nhiều chi tiết ông mô tả khá tương đồng với pháp trường này, chỉ có thời gian hành hình (trong "Thuốc" là ban đêm) thì còn xem lại, hoặc ông có dụng ý riêng.







Bình luận (0)