(NLĐO) - Chén rượu tử tù uống trước giờ xử trảm sẽ được đập vỡ ngay, gọi là Hoàng tuyền pháo, phạm nhân từ lúc này là đưa thẳng đến pháp trường không dừng lại, vì "Đường đến suối vàng không quán rượu"
Tử tù trước khi ra pháp trường được ăn bữa cơm cuối cùng và trên đường đi được uống rượu. Có người đến pháp trường đã say mụ người chẳng biết gì.
Những tấm ảnh được nhiếp ảnh gia người Mỹ William Huggins chụp từ năm 1902 cho thấy những công đoạn hành hình ở Thái Thị Khẩu: tử tù nhốt trong cũi được giải đến hình trường – đao phủ (xưa gọi là khoái tử thủ) ôm quỷ đầu đao chờ sẵn - quan giám trảm tuyên đọc "câu quyết" tức thánh chỉ bác ân xá – đao phủ xuống đao rồi xách đầu tử tội đến cho quan giám trảm dùng bút chấm chu sa điểm vào chiếc đầu xác nhận đúng là phạm nhân đã chết – thu dọn thi thể. Quá trình hành quyết qua ảnh diễn ra nhanh gọn. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy...
Sau khi ngục quan ở đại lao tiếp nhận được trát của Hình bộ về việc "thu trảm", ngục tốt sẽ nói với tử tù "Chúc mừng ông đến kỳ đại hỷ!", rồi báo cho thân nhân biết để đem đến bộ quần áo mới, mặc lúc lên đường. Tiếp đó là cho tắm rửa rồi ăn bữa cơm giã từ dương thế, gọi là "Từ dương phạn".
Tử tù đời Thanh thường được ăn món chân giò heo hầm và bánh nướng. Nhiều trường hợp trong bữa cơm này tử tù được gặp mặt người thân lần cuối, quan giám trảm trực tiếp theo dõi biểu hiện để xét đoán chân giả vụ án, tránh nhầm người, oan sai.
Bữa cơm đặc biệt này mỗi đời một khác, triều Đường, Tống cho ăn khá thịnh soạn, thường là hai món chay, hai món mặn, một hũ rượu. Đời Nguyên thì chỉ cho miếng thịt luộc dùng dao xắt ăn, ngụ ý xuống đao càng nhanh thì đi càng nhẹ nhàng. Theo tập tục, tử tù đời Thanh còn được ngục tốt đưa cho một chút thịt sống nhét vào người mang ra pháp trường, ý rằng dùng miếng thịt ấy ném cho con chó ngao giữ cầu Nại Hà ở âm phủ để nó ăn, linh hồn thuận tiện chuyển sinh kiếp khác.
Tử tù giải ra pháp trường cũng chia đẳng cấp: có danh phận thì ngồi trong cũi, do lừa kéo; dân đen thì đeo gông mang xiềng lê bước đi. Tất cả đi ra từ Tuyên Võ Môn, có đội phèng la dẫn đường, quan binh kèm chặt, đao phủ đi sau, quan giám trảm cưỡi ngựa áp trận.
Đoàn người diễu hành qua các hàng phố, hai bên dân chúng đứng xem đông nghẹt, họ thể hiện thái độ với tử tù bằng cách phun nước bọt, ném vỏ trái cây, hoặc bày hương án bên trên có để mấy chén rượu tống tiễn. Các tửu điếm cũng thường đặt trước cửa tiệm chiếc bàn có mâm gỗ, trong mâm đặt thanh gỗ ngang bên trên có để mấy chén sành. Tử tù có thể yêu cầu dừng lại, người trong quán sẽ chạy ra rót đầy chén bằng thứ rượu mạnh được pha giữa rượu vàng (từ ngũ cốc lên men vắt ra) và rượu trắng (được chưng cất), nồng độ rất cao, tục gọi là Quy âm tửu, Mê hồn thang hay Kim ngân trấp, uống xong là chếch choáng, liêu xiêu. Vì thế nhiều tử tội trấn áp nỗi sợ bằng cách này, ra đến pháp trường là không biết gì nữa. Cái chén tử tù uống xong sẽ được đập vỡ ngay, gọi là Hoàng tuyền pháo, phạm nhân từ lúc này là đưa thẳng đến pháp trường không dừng lại, vì "Đường đến suối vàng không quán rượu".
Thái Thị Khẩu tồn tại nghịch lý: Suốt mấy trăm năm, nơi đây càng hành quyết nhiều người thì buôn bán càng phát đạt; vừa là nơi giết người lại vừa có một nhà thuốc cứu người nổi tiếng.
Nói đến Thái Thị Khẩu không thể không nhắc đến Hạc Niên Đường – hiệu thuốc Đông y do danh y, nhà thơ, nhà dưỡng sinh Đinh Hạc Niên (1335-1424) lập ra từ năm 1405 đến năm 1956 bị quốc hữu hóa đã qua 17 đời truyền thừa, đến nay đã phát triển nhiều chi nhánh, danh tiếng không kém gì Đồng Nhân Đường.
Người các nơi đến chiêm ngưỡng bút pháp lão luyện trên biển hiệu "Hạc Niên Đường" do Thủ phụ Nghiêm Tung – thừa tướng triều Minh Thế Tông viết, hai bên có thủ bút của danh tướng Thích Kế Quang về bí quyết dưỡng sinh "Điều nguyên khí, Dưỡng thái hòa".
Nằm trên trục đường chính của Thái Thị Khẩu dẫn vào hình trường, Hạc Niên Đường được chọn làm chỗ dựng bạt căng màn đặt bàn giám trảm, cũng là chỗ nghỉ ngơi cho các quan và đao phủ trước lúc "xuất hồng sai" – tiếng lóng chỉ hành quyết phạm nhân.
Hạc Niên Đường ngoài cao, đơn, hoàn, tán còn đặc chế hai thứ rất nổi tiếng: thuốc chữa đao thương, cầm máu và "Hạc đỉnh huyết" – một loại thuốc an thần rất hiệu nghiệm. Đương thời, ở Bắc Kinh có câu rủa "Ra Hạc Niên Đường mà mua thuốc trị đao thương", ngầm ý đi chết đi cho rồi.
Trong rất nhiều câu chuyện ly kỳ về Thái Thị Khẩu như đêm nghe hồn ma kêu khóc, tiếng ngựa chạy quân đi, tiếng đàn ai oán, ma không đầu tìm kim chỉ may lại… còn có chuyện ngày nào hành quyết phạm nhân là đêm đó có người gõ cửa Hạc Niên Đường nói mua thuốc trị đao thương, nhưng mở ra thì không thấy ai, sau phải để ít thuốc ra phía ngoài cửa mới êm chuyện. Thân nhân của các tử tù thường mua Hạc đỉnh huyết rồi hối lộ nhờ đao phủ cho uống khiến toàn thân tê dại, bớt đau đớn khi thọ hình, hiệu quả hơn uống Quy âm tửu.








Bình luận (0)