img


(NLĐO) - Hình luật đời Minh – Thanh: Án lập quyết là thi hành ngay, thường áp dụng cho các tội thuộc "thập ác bất xá" như mưu phản nghịch, thí vua, phá hoại lăng miếu, giết cha mẹ, loạn luân, giết nhiều người…

Pháp trường Thái Thị Khẩu phần lớn khai đao vào cuối thu đầu đông sau khi Đại Lý Tự, Hình bộ, Đô sát viện lập hội đồng thẩm tra hình án trình danh sách án tử lên hoàng đế và đã bị bác ân xá.

Bí mật pháp trường (kỳ 2): Xem ngày, xem giờ xử trảm - Ảnh 1.

Hình luật thời Minh, Thanh về án tử hình phân biệt 2 loại là án lập quyết (quyết bất đãi thời) và thu hậu quyết (trảm giam hậu).

Án lập quyết là thi hành ngay, thường áp dụng cho các tội thuộc "thập ác bất xá" như mưu phản nghịch, thí vua, phá hoại lăng miếu, cung điện; giết cha mẹ, loạn luân, giết nhiều người. Còn những tử tội khác thuộc thu hậu quyết thì được nằm ngục và trả án từ sau tiết Thu phân đến trước tiết Đông chí trong năm, nên thường gọi là "Thu hậu vấn trảm".


Chịu quan niệm "thiên nhân tương ứng" rất sâu đậm, vấn đề "thiên thời" trong hình án ở đây được tuân thủ chặt chẽ và kéo dài liên tục mấy ngàn năm lịch sử Trung Hoa. Việc nhân sự phải hợp với thiên thời, "xuân sinh, hạ trưởng, thu thâu, đông tàng" nên ban thưởng vào mùa xuân, hạ; dụng hình vào thu, đông – hai mùa tiết trời se sắt, cảnh vật thê lương, chính hợp với "sát lệnh" của trời đất.

Lịch pháp Trung Hoa cổ chia 1 năm thành 24 tiết khí, từ Lập xuân đến Đại hàn, tương ứng với 24 điểm trên quỹ đạo Trái đất xung quanh Mặt trời. Tiết Thu phân vào khoảng giữa mùa Thu, mặt trời vận hành đến 180 kinh độ, ngày và đêm dài bằng nhau. Từ sau Thu phân thì ngày càng ngắn dần, âm trưởng dương tiêu, xử tử hình là việc âm sự nên tiến hành vào thời điểm này trở đi là thích hợp nhất.

Nhưng qua Hàn lộ, Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết đến tiết Đông chí thì "nhất dương sinh" – mầm dương khí đã hiện nên không được giết chóc nữa. Đời Đường quy định "Mỗi năm từ sau Lập xuân đến Thu phân không được xử tử hình" (Đường. Lục điển – Hình bộ), quan viên ai vi phạm sẽ bị "trượng bát thập" – đánh 80 gậy; đời Tống, Minh cũng theo đó. Cụ thể là thi hành xử tử từ cuối tháng 9, 19, 11, nửa đầu tháng 12 âm lịch.

Đời Minh còn quy định thêm "Những kẻ phạm tội "thập ác" đáng phải chết, tuy xử trảm ngay nhưng nếu giết vào ngày cấm hình thì kẻ thi hành án bị đánh 40 roi" (Minh luật. Hình luật – Đoán ngục). Ngày cấm hình còn gọi là "Thập trị nhật" gồm các ngày 1, 8, 14, 15, 18, 23, 14, 28, 29, 30; ngoài ra còn có ngày đúng 24 tiết khí, quốc khánh, sinh nhật hoàng đế cũng cấm sát. Như vậy, khấu trừ hết thì mỗi năm có khoảng 80 ngày được thi hành án tử.

Ngoài ra, mùa thu, đông cũng là dịp nông nhàn của nông dân, mùa màng đã thu hoạch xong, có thể thoải mái đi tham quan, xem việc hành hình phạm nhân như một sự kiện đặc biệt trong năm.

Bí mật pháp trường (kỳ 2): Xem ngày, xem giờ xử trảm - Ảnh 2.

Vương Vĩnh Khoan trong tác phẩm "Trung Quốc cổ đại khốc hình" viết rằng: "Từ xưa người Trung Quốc rất thích xem tử hình, mỗi khi gặp hành quyết tử tù là hàng ngàn vạn người vây quanh chen nhau xem.

Giờ hành hình là yếu tố quan trọng không thể không xét đến trong hình pháp Trung hoa xưa. Gặp khi "mưa chưa tạnh, mặt trời chưa mọc" cũng không được tử hình.

Về giờ giấc, hình luật đời Đường, Tống quy định rõ, chỉ được thi hành tử hình trong thời gian từ giờ mùi đến giờ thân (khoảng 1 giờ đến 5 giờ chiều). Như đã nói, vào thời điểm qua tiết Thu phân thì ngày ngắn, mặt trời xuống nhanh. Thời Minh, Thanh không quy định giờ giấc cụ thể nhưng phổ biến nhất là hành hình vào "giờ ngọ ba khắc", giờ ngọ là từ 11 đến 1 giờ trưa, mỗi khắc tương ứng 15 phút, vậy là vào khoảng gần 12 giờ trưa, mặt trời ở vào đỉnh điểm, bóng trên Mặt đất thu lại ngắn nhất, là lúc "dương khí" cực thịnh trong ngày.

Bí mật pháp trường (kỳ 2): Xem ngày, xem giờ xử trảm - Ảnh 3.

Đao phủ thủ

Bí mật pháp trường (kỳ 2): Xem ngày, xem giờ xử trảm - Ảnh 4.

Một buổi xử trảm

Người Trung Hoa cổ luôn cho rằng việc giết người là "âm sự", dù người bị giết có đáng tội hay không thì âm hồn của y luôn bám theo những người có liên quan đến việc xử tử y như phán quan, quan giám trảm, đao phủ. Vì vậy, hành hình lúc dương khí thịnh nhất thì âm hồn sẽ bị trấn áp. Đây là nguyên nhân chủ yếu tạo nên thói quen hành hình lúc "giờ ngọ ba khắc". Một lý giải khác là chờ 3 khắc mới động thủ để phạm nhân có thể kêu oan, hoặc có thánh chỉ hoãn trảm, nhưng hiếm khi xảy ra.

Như trường hợp Văn Thiên Tường, khi thánh chỉ đình trảm của Hốt Tất Liệt đến pháp trường thì đã rơi đầu. Tác giả của "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử" được xem là người khai màn cho pháp trường Thái Thị Khẩu – lúc ấy gọi là Sài Thị, Bắc Kinh gọi là Đại Đô, kinh đô triều Nguyên.

Bí mật pháp trường (kỳ 2): Xem ngày, xem giờ xử trảm - Ảnh 5.

Quang cảnh pháp trường Thái Thị Khẩu

Ngày 9-1-1283, vị thừa tướng Nam Tống nổi tiếng kiên trung này bị đưa đi chém đầu thị chúng sau 3 năm bị giam cầm và cự tuyệt tất cả những lời khuyên hàng từ vua quan nhà Tống đang là tù nhân đến chính Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, chỉ xin được chết.

A Lỗ Đồ đời Nguyên viết trong "Tống sử. Văn Thiên Tường truyện" rằng: "Ông ung dung thọ hình, bảo với đao phủ rằng: "Việc ta đã xong", hướng về Nam lạy rồi chịu chém. Lúc ấy chiếu chỉ đưa đến dạy đình trảm nhưng đã muộn.

Mấy ngày sau, vợ ông là Âu Dương thị đến nhận thi thể, thấy vẻ mặt như người còn sống, năm ấy mới 47 tuổi. Thấy trong đai áo có viết mấy câu rằng: "Khổng dạy thành nhân/ Mạnh dạy thủ nghĩa/ Chỉ khi nghĩa tận/ Thì nhân mới hiện/ Đọc sách thánh hiền/ Sở học có gì? Từ nay về sau/ Không còn hổ thẹn".

Bí mật pháp trường (kỳ 2): Xem ngày, xem giờ xử trảm - Ảnh 6.

Nội dung: THIÊN TƯỜNG
Thiết kế Đồ họa: CHI PHAN

Lên đầu Top

Thanh toán mua bài thành công

Chọn 1 trong 2 hình thức sau để tặng bạn bè của bạn

  • Tặng bằng link
  • Tặng bạn đọc thành viên