Hoàng thành Thăng Long ẩn chứa trong mình những bí mật lịch sử của bao vương triều suốt chiều dài 1000 năm của kinh thành Thăng Long, Hà Nội. Đây được coi là di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.
Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội nằm trên địa bàn phường Điện Biên và Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, với diện tích quy hoạch bảo tồn vùng lõi là 18,395ha (bao gồm Khu di tích thành cổ Hà Nội và Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu) và diện tích vùng đệm là 108ha.
Đến bây giờ, nhiều người vẫn cho rằng nếu phương án xây dựng nhà Quốc hội tại khu đất 18 Hoàng Diệu không được lựa chọn vào đầu những năm 2000 thì có lẽ di sản văn hóa thế giới Hoàng thành Thăng Long vẫn còn nằm trong lòng đất, mang trong mình những bí mật không có lời giải đáp. Trước năm 2000, nơi định đô của các triều đại tại Hà Nội vẫn là một ẩn số. Tháng 12-2002, cuộc khai quật khảo cổ học lớn nhất Việt Nam và của cả Đông Nam Á tại trung tâm chính trị Ba Đình – Hà Nội đã phát lộ những dấu vết của Hoàng thành Thăng Long trong tiến trình lịch sử trải dài 13 thế kỷ với các di tích và tầng văn hóa chồng xếp lên nhau.
Trên diện tích 19.000m2, những dấu vết kiến trúc độc đáo cùng hàng triệu hiện vật quý giá đã phần nào tái hiện lại quá trình lịch sử trải dài từ thời kỳ Bắc thuộc dưới ách đô hộ của nhà Tùy và nhà Đường (thế kỷ VII đến thế kỷ IX) và xuyên suốt các triều đại: Lý, Trần, Lê, Mạc và Nguyễn (1010-1945). Cố GS Phan Huy Lê nhận định việc phát lộ di tích hoàng thành năm 2003 đã gây nên một chấn động lớn trong dư luận xã hội bởi sự vô giá của di tích này.
Giá trị đặc biệt của khu trung tâm hoàng thành Thăng Long thể hiện ở chỗ nó gần như là một "bộ lịch sử sống" chảy suốt theo cả chiều dài lịch sử hơn 10 thế kỷ của Thăng Long- Hà Nội, kể từ thành Đại La thời tiền Thăng Long đến thời đại ngày nay. Đây là "bộ sử bằng di vật" của kinh thành Thăng Long, để từ đó ta hiểu được rất nhiều về kiến trúc, về bản sắc văn hóa, về sự kết hợp thiên nhiên (thích nghi và tận dụng), kết hợp triệt để giao thông đường thủy, xử lý không gian.
Theo các tài liệu lịch sử, kinh thành Thăng Long được xây dựng với ba vòng thành. Vòng ngoài cùng là La thành, là vòng thành nằm theo các con đường Đại Cồ Việt, Đê La Thành, Bưởi... hiện nay. Vòng thành thứ hai là Hoàng thành, giữa hai lớp thành này là nơi dân cư sinh sống, buôn bán. Lớp thành trong cùng là Cấm thành, nơi sinh sống và làm việc của nhà vua cùng hoàng tộc.
Lớp tường Hoàng thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, có 4 cửa mở ra 4 hướng. Tử cấm thành từ thời Lê hiện không còn dấu vết, chỉ có vòng thành trong cùng được xây lại thời nhà Nguyễn, theo lệnh vua Gia Long. Giới hạn tường thành tương ứng với 4 con phố hiện nay là: Phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây. Đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã cho phá các tường thành này, chỉ còn lại một số di tích Cửa Bắc, Đoan Môn, Hậu Lâu cùng Cột cờ Hà Nội...
Năm 2004, Bộ Quốc phòng bàn giao khu vực Thành cổ Hà Nội cho TP Hà Nội. Tháng 10-2004, Thành cổ Hà Nội lần đầu tiên mở cửa đón khách tham quan. Từ đây, những bí ẩn về trục chính tâm của Hoàng thành Thăng Long với dấu tích còn lại dần được hé mở. Kết quả nghiên cứu bước đầu của các chuyên gia trong nước và quốc tế đã khẳng định những giá trị to lớn về văn hóa lịch sử và khoa học của khu di tích đặc biệt quan trọng này. Trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng…, nhưng số di tích lịch sử và khảo cổ học tiêu biểu như Kỳ Đài, Đoan Môn, Điện Kính Thiên, khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu…đến nay vẫn còn được lưu giữ.
Kỳ đài, "Cột cờ Hà Nội", nằm trên đường Điện Biên Phủ, được xây dựng năm 1812, dưới thời Vua Gia Long triều Nguyễn trên phần đất phía nam của Hoàng thành Thăng Long, nơi xây tòa thành Tam Môn của Hoàng thành Thăng Long thời Lê. Đây là điểm chuẩn, đánh dấu sự khởi nguyên ở đầu phía nam trục chính tâm của tòa thành, từ đây theo đường "ngư đạo", qua Đoan Môn rồi tới điểm quan trọng nhất, điểm trung tâm của Hoàng thành là điện Kính Thiên.
"Cột cờ Hà Nội" là một trong số ít những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành Hà Nội có may mắn thoát khỏi sự phá hủy do chính quyền đô hộ Pháp tiến hành trong ba năm 1894-1897.
Ngày 10-10-1954, lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng, cờ Tổ quốc, tung bay trên đỉnh "Cột cờ Hà Nội" và được công nhận là di tích lịch sử năm 1989. Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, hình ảnh của "Cột cờ Hà Nội" đã được in trang trọng trên đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành lần đầu tiên.
Đoan Môn, là cửa trong cùng, dẫn vào Cấm thành, nơi ở của vua và hoàng tộc. Nằm ở hướng Nam của điện Kính Thiên thẳng trục với Cột cờ Hà Nội, Đoan Môn được xây dựng theo chiều ngang theo lối tường thành cổ với 5 cổng thành kiểu vòm cuốn bằng đá cân xứng qua trục thần đạo của Hoàng thành Thăng Long. Cửa giữa lớn nhất dành riêng cho nhà vua, cao 4 mét, rộng 2,7 mét. Các cửa còn lại cao 3,8 mét rộng 2,5 mét dùng để các quan, hoàng thân quốc thích ra vào cung cấm mỗi khi có lệnh hoặc tham dự các nghi lễ lớn tại điện Kính Thiên.
Năm 1999, các nhà khảo cổ học đã chọn hố khai quật ngay tại chính giữa cửa Đoan Môn hiện còn để lần tìm dấu vết con đường Ngự đạo xưa. Ngay ở độ sâu 1,2m đã xuất lộ một đường viền đá lát chân tường Đoan Môn, một sân lát đá gạch vồ thời Lê và ở độ sâu 1,9m đã xuất lộ dấu tích một con đường lát gạch "hoa chanh" thời Trần. Theo hướng Bắc Nam, con đường được dự đoán còn kéo dài hơn nữa và rất có thể đó là con đường đi từ Đoan Môn đến điện Thiên An thời Trần. Đáng chú ý là trong số gạch lát con đường thời Trần còn có những viên gạch thời Lý được dùng lại. Như vậy, kết quả khảo cổ học tại Đoan Môn càng củng cố thêm giả thiết về Đoan Môn thời Lý, Trần, Lê về cơ bản đã tọa lạc tại cùng một vị trí.
Trong tổng thể các di tích của khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, điện Kính Thiên là di tích quan trọng bậc nhất. Đây là nơi cử hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi đón tiếp sứ giả nước ngoài và là nơi thiết triều bàn những việc quốc gia đại sự.
Lấy Càn Nguyên đặt tên cho điện coi chầu, Lý Thái Tổ đã chọn đúng trung tâm của trời đất đặt ngai vàng để trị nước. Sau các vua nhà Lý, các vua nhà Trần, nhà Lê đã cho xây dựng hệ thống thành lũy tại đây. Từ năm 1788, khi Vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân – Huế và sau đó nhà Nguyễn (1802 – 1945) cũng định đô tại đây thì thành Thăng Long trở thành trụ sở của Trấn Bắc Thành.
Năm 1805, Vua Gia Long cho xây dựng khu vực này làm hành cung để vua sử dụng mỗi khi các vua nhà Nguyễn "Bắc tuần". Tên "Thành cổ Hà Nội" xuất hiện từ năm 1831, khi Vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn, thành lập các tỉnh trên cả nước, trong đó có tỉnh Hà Nội, Thành Hà Nội là trụ sở của tỉnh Hà Nội.
Thời Pháp thuộc, vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp phá bỏ hành cung Kính Thiên và xây dựng trụ sở chỉ huy pháo binh tại đây. Ngôi nhà này được gọi là nhà Con Rồng (hay còn gọi là Long Trì), do phía trước và sau đều có rồng đá chầu. Sau ngày 10-10-1954, khi quân ta vào tiếp quản Thủ đô, khu vực này trở thành nơi làm việc của Bộ Quốc phòng.
Dưới sân điện Kính Thiên là khu hầm lớn kiên cố có tên D67. Nhà D67 (được thiết kế và xây dựng vào năm 1967) có tên đầy đủ là Phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương, bao gồm nhà D67 và hầm D67. Nơi đây có phòng làm việc của hai vị đại tướng lừng danh của Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đại tướng Văn Tiến Dũng. Nhà D67 là một thành tố cơ bản của Tổng hành dinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hậu lâu (Lầu Công chúa) xây dựng năm 1821, được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống các Vua nhà Nguyễn khi xa giá ra Bắc. Cuối thế kỷ XIX, Hậu lâu bị hư hỏng nặng, người Pháp đã cho cải tạo, xây dựng lại như hiện nay.
Năm 1998, được sự đồng ý của Bộ Văn hóa – Thông tin, Viện Khảo cổ học phối hợp cùng Ban quản lí danh thắng Hà Nội tổ chức 2 đợt khai quật khảo cổ học trên 2 hố tại di tích Hậu Lâu. Với các vết tích kiến trúc khai quật được, có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu Thăng Long – Hà Nội, cùng với cuộc đào thăm dò khảo cổ ở Đoan Môn, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy vết tích nền móng của nhiều kiến trúc, nhiều thời kì lịch sử với đặc trưng khác nhau. Khu vực này cách điện Kính Thiên không xa và theo sử cũ, là nơi có nhiều cung điện, lầu gác của triều đình. Như vậy có thể khẳng định một lần nữa Hậu Lâu nằm trong khu vực trung tâm của Hoàng Thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê.
Chính Bắc Môn hay Cửa Bắc nằm trên phố Phan Đình Phùng, được xây dựng năm 1805, là cổng thành duy nhất còn lại của Thành Hà Nội thời Nguyễn. Người ta có thể dễ dàng nhận thấy phía ngoài Bắc Môn vẫn còn lưu dấu 2 vết đạn thần công khi người Pháp dùng chiến thuyền tấn công thành Hà Nội từ phía bờ sông Hồng năm 1882.
Dù Bắc Môn là công trình do nhà Nguyễn xây dựng, nhưng dưới chân cổng thành sừng sững này là tầng tầng lớp lớp di chỉ thành quách từ các triều đại trước đó, khẳng định sự liên tục trong lịch sử ngàn năm của Hoàng thành.
Các nhà khoa học, giáo sư đầu ngành lịch sử, khảo cổ học như cố GS Phan Huy Lê, GS Nguyễn Quang Ngọc, PGS Tống Trung Tín… đều có chung nhận định khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt lịch sử liên tục 13 thế kỷ và vẫn được tiếp nối cho đến ngay nay. Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản này phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trong gần 1.000 năm. Trên thế giới, rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu của sự phát triển chính trị, văn hóa như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.
Thêm vào đó, những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy, mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban), đến từ Trung Hoa, Champa, Pháp, để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng….
Với những giá trị đặc biệt trên, ngày 31-7-2010, Hoàng Thành Thăng Long chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Để lan tỏa cũng như tôn vinh những giá trị đặc biệt của Di sản văn hóa thế giới này, một tour du lịch đặc biệt mang tên "Giải mã Hoàng Thành Thăng Long" đã được Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp cùng một công ty lữ hành xây dựng, thu hút được đông đảo du khách. Bắt đầu từ Cổng Đoan Môn bước vào Cấm thành Thăng Long, nơi ở của nhà vua, hoàng gia xưa kia và kết thúc tại Khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu, với tour đêm này, du khách có thể hình dung một phần lịch sử của Hoàng thành Thăng Long trải dài từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX, xuyên suốt các triều đại: Đại La, Lý, Trần, Mạc, Lê và Nguyễn.
Đồ họa: LÊ DUY


















Bình luận (0)