img

Đường Nguyễn Hạnh là một con lộ nhỏ ở phường Thủy Vân, TP Huế; vừa được đặt tên vào cuối năm 2023. Đó là niềm vinh dự, tự hào của con cháu dòng họ Nguyễn ở làng Vân Dương (Thủy Vân) nói riêng và của người làng nói chung khi Nhà nước ghi nhận công lao của một vị danh y thời Nguyễn.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 1.

Con đường mang tên Viện sứ Nguyễn Hạnh ở phường Thủy Vân, TP Huế

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 2.

Vậy Nguyễn Hạnh là danh nhân có công trạng gì mà được chính quyền địa phương đặt tên đường như một lời tri ân? Theo tờ trình của UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế gửi HĐND tỉnh về tóm tắt tiểu sử danh nhân để đặt tên đường thì ông Nguyễn Hạnh (1805-1874) còn có tên Nguyễn Văn Hạnh, là bậc danh y triều Nguyễn, sinh tại làng Vân Dương, tổng An Cựu, phủ Thừa Thiên (Huế ngày nay). Bài vị được thờ tại nhà thờ họ Nguyễn ở đường Nguyễn Công Trứ, phường Xuân Phú, Huế.

Khác với thân sinh theo nghiệp võ, Nguyễn Hạnh đi theo con đường y học, là Y chính trong Thái Y viện triều Nguyễn. Năm 1847, ông thăng thụ Hữu viện phán viện Thái y. Năm này, do có công chầu chực thuốc thang chữa trị bệnh đậu mùa cho hoàng tử Hồng Nhậm (vua Tự Đức) nên ông được vua Thiệu Trị ban thưởng ngân tiền, áo quần và thăng thụ Tả viện phán Thái Y viện.

Trên bia Khiêm Cung ký ở Khiêm lăng, vua Tự Đức đã tự tay viết: "Gần đến tuổi trưởng thành, vào tháng sáu bỗng mắc bệnh đậu mùa rất nguy kịch, nhờ cha mẹ hết sức thuốc thang cầu đảo, tháng tám mới khỏi...".

Theo bác sĩ Nguyễn An Huy (Bệnh viện Trung ương Huế) và ông Nguyễn Bái (hậu duệ Viện sứ Thái Y viện Nguyễn Hạnh), sử liệu chép lại như sau: "Thiệu Trị năm thứ 7 (1847) chỉ dụ: Lần này hoàng tử lên đậu mùa được tốt lành. Vậy gia ân cho người trước sau trông coi thuốc thang là Y chính Nguyễn Văn Hạnh được thăng thụ Hữu viện phán Thái y. Đoàn Công Loan cho chuyển bổ làm Tả Viện phán".

Vua Thiệu Trị lại chỉ dụ: "Tả viện phán Viện Thái y Hoàng Đức Hạ cho thăng Phó Ngự y. Về chân khuyết ấy thì cho Hữu viện phán là Nguyễn Văn Hạnh thăng thụ Tả viện phán cho đủ chức làm việc".

Sau đó, khi vừa lên ngôi (1848), vua Tự Đức đã thăng chức cho vị quan đã trực tiếp chữa bệnh cho mình.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 4.

Bia Khiêm cung ký ở lăng vua Tự Đức. Ảnh: Văn Hậu

Theo Nguyễn An Huy và Nguyễn Bái, khi tham gia chữa bệnh cho hoàng tử Hồng Nhậm, Hữu Viện phán Nguyễn Hạnh chỉ đứng vị trí thứ 5 trong Thái Y viện, trên ông còn có 4 người là viện sứ (người đứng đầu viện), ngự y, phó ngự y và tả viện phán.

Ngoài ra, cũng còn có nhiều người khác bên ngoài tham gia hội chẩn, điều trị như Nguyễn Quý chẳng hạn... Sau đợt này, nhiều người đều được thăng chức. Tuy nhiên, lời dụ của vua Thiệu Trị chỉ dành riêng cho Nguyễn Hạnh rằng "Ngươi nên đem phương thuốc hạnh lâm mà làm xứng với chức vụ, hưởng ân vinh mãi", đã hàm ý công nhận tài năng và đạo đức của ông. 

Từ việc bổ nhiệm và lời dụ này, có thể suy ra rằng, tuy điều trị bệnh đậu mùa cho vua Tự Đức là do nhiều người hợp lực nhưng có lẽ y thuật chính là từ Nguyễn Hạnh. Và cũng từ tài năng đó, lại thêm nhân phẩm đạo đức nên ông được thăng chức viện sứ.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 5.

Bút tích bác sĩ Sallet ghi chép năm 1928 về 2 bài thuốc do Viện sứ Nguyễn Hạnh và Ngự y phó Nguyễn Tán chế ra để phòng chống bệnh tả xảy ra vào năm 1859

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 6.

Tiến sĩ Hồ Châu, Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh, cho rằng bản thân vua Tự Đức hay đau ốm, lại cầu mong chữa bệnh vô sinh để có con nối dõi tông đường. Vì vậy, nhiều chính sách, biện pháp đã được ban hành đối với cơ quan Thái Y viện, trong đó yêu cầu các quan phải có trình độ chuyên môn cao.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 7.

Bản tấu ngự dược "Bát vị cao hoàn gia giảm" lên vua Tự Đức ngày 1-3-1877. Ảnh của Nhà giáo ưu tú, thạc sĩ Phan Tấn Tô chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Nhà giáo ưu tú, thạc sĩ Phan Tấn Tô, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đông y TP Huế, phân tích khá nhiều về sức khỏe của vua Tự Đức cũng như các châu bản Thái Y viện ngự dược. 

"Thái Y viện chăm lo sức khỏe cho Tự Đức chủ yếu làm sao bồi bổ tinh lực để người mạnh khỏe. Có một số chỉ dụ của nhà vua để tìm thầy giỏi chữa bệnh đau mắt và sinh nhiều con. Lời lẽ của vua khẩn thiết, mong mỏi tìm được người tài và hứa hẹn tưởng thưởng xứng đáng" – ông Tô phân tích.

Tự Đức năm thứ nhất 1848, nhà vua đã chỉ dụ rằng: Thái Y viện hiện nay người am luyện lão thành đã ít, và lại đạo làm thuốc huyền diệu sâu xa, dùng thuốc không dễ. Hơn nữa dâng thuốc vua dùng, quan hệ dường nào. Tất phải chọn người giỏi để mong thành công hiệu".

Tháng Giêng năm 1860, vua sai các địa phương xét hỏi những thầy thuốc, người nào tinh thông phương thuốc, xem mạch, trị bệnh có nhiều hiệu nghiệm thì kê tên tâu lên. Đến tháng 4 năm 1861, Tự Đức lệnh xuống: "Duy người tài phần nhiều khó biết, sao có thể cử cho hết được. Nếu không tìm kiếm rộng thu nhặt nhiều, thì người tài giỏi bởi đâu mà tự đề đạt ra được".

Sau đó, có chỉ dụ cho biết đã tìm được thầy chữa đau mắt, còn thầy cầu tự thì chưa thấy nhắc đến.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 8.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 9.

Năm 1878 châu phê có đoạn: "Trẫm nay tuổi già nhiều bệnh, đã không thể không mong được nữa. Trong cung (cung nữ) tuy không bằng nửa các triều xưa mà còn sợ nhiều người còn chưa được vời, muốn chọn cho họ ra…".

Vua Tự Đức mất năm 1883, thọ 54 tuổi. Dù có đến 103 người vợ nhưng ông không có một người con để nối dõi nên chọn con nuôi Nguyễn Phúc Ưng Chân (con của người em ruột) lên ngôi, lấy niên hiệu là Dục Đức. Những bà phi đành phải lên Khiêm lăng tiếp tục phụng lo lăng tẩm, trong đó có một số bà chỉ mới 17, 18 tuổi.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 10.

Lăng mộ vua Tự Đức tại Khiêm lăng. Ảnh: Văn Hậu

Theo ông Phan Tấn Tô, bệnh không có con của vua Tự Đức có người cho rằng vì bị đậu mùa mà sinh vô tự nhưng điều này không đúng lắm vì người bị bệnh này sau đó vẫn có con. Hơn nữa, vua Tự Đức đã cưới vợ từ năm 15 tuổi (từ 2-3 năm trước khi bị bệnh) nhưng vợ vẫn chưa có thai.

"Có lẽ cũng không phải do chứng liệt dương (dương nuy) bởi lẽ nếu mắc chứng bệnh này thì cần gì tuyển nhiều cung nữ như vậy. Bệnh ở đây có lẽ là do thiểu tinh (tinh trùng ít, loãng), tảo tiết (xuất tinh sớm) hoặc do vô sinh bẩm thụ" – ông Phan Tấn Tô phân tích.

Trong bài viết "Thái Y viện triều Nguyễn và việc chữa bệnh mắt dưới đời vua Tự Đức", bà Nguyễn Thị Dương, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cho biết theo sử triều Nguyễn, cả vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dụ đều có triệu chứng bệnh mắt.

Vua Tự Đức từng hơn một lần than phiền bị hoa mắt, nhìn kém rõ nhưng là về sau này. Như lời bộc bạch của nhà vua năm 1869: "Gần đây tiết xuân mới, hành mộc vượng, mắt hoa mờ lắm..." hay vào năm 1877, vua Tự Đức than phiền: "Hoa mắt nhìn không còn rõ như trước".

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 11.

Qua nghiên cứu các châu bản, bà Dương khẳng định không chỉ tìm trong nước, có lần đọc tin tức trên báo thấy có thầy thuốc nhãn khoa người Thanh là Hoắc Nhiễu Phú hành nghề ở Hương Cảng (Trung Quốc) chữa bệnh mắt hiệu nghiệm vào năm 1879, vua Tự Đức liền sai đình thần nhân chuyến đi công cán Hương Cảng tìm mời thầy thuốc này.

Những năm cuối đời, vua Tự Đức, phương thuốc trị mắt từ nước ngoài cũng theo các đoàn đi công cán xuất hiện tại triều đình. Năm Tự Đức thứ 27 (1874), Phan Sĩ Thục đi sứ về dâng ngọc trai và phương thuốc tiên trị mắt. Hay năm Tự Đức thứ 30 (1877), Quang minh nhãn được là một trong số dược phẩm được nhóm Lê Điều mua về nhân chuyến công cán Hương Cảng và Quảng Đông.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 12.
Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 13.

Một góc lăng vua Tự Đức. Ảnh: Văn Hậu

Bà Dương nhận xét các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng hay Thiệu Trị đều từng thể hiện sự không hài lòng với kết quả chữa trị của thầy thuốc Thái Y viện nhưng chưa ai tỏ ra bức xúc với các ngự y như vua Tự Đức. Trách cứ và áp dụng các hình phạt (đánh bằng gậy, đánh bằng roi hay cắt lương, giáng cấp), hay tổ chức các cuộc sát hạch đánh giá, thậm chí hướng tới sàng lọc thầy thuốc Thái Y viện nhưng tất cả biện pháp đó vẫn không khiến nhà vua hài lòng.

Chữa bệnh đậu mùa, vô sinh cho vua Tự Đức- Ảnh 14.

Tên sách Nhãn luận với các thông tin về nội dung và người biên soạn được ghi nhận trong "Cổ học viện thư tịch thủ sách". Ảnh: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

"Nếu trong hai bản dụ năm 1859, 1860, vua Tự Đức viết "đám các ngươi chỉ đọc suông sách cũ (chứ) chẳng có tài thuật gì", "chỉ toàn nói những điều viển vông, rút cục chẳng thực hiệu". Tới bản dụ năm 1876, giọng điệu bực bội càng tăng khi ông dùng từ "ăn hại" (nhũng thực) để chỉ các thầy thuốc triều đình. Đặc biệt, năm 1882, với tiêu chí chọn cử thầy thuốc yêu cầu phải có tay nghề "hơn người trong Thái Y viện thì mới được cử", sự thất vọng của Tự Đức đối với các ngự y càng lộ rõ hơn bao giờ hết" – bà Dương nhận xét.


----------------------------------------------------- (Còn tiếp...) ---------------------------------------------

QUANG NHẬT
ANH THANH
Lên đầu Top

Thanh toán mua bài thành công

Chọn 1 trong 2 hình thức sau để tặng bạn bè của bạn

  • Tặng bằng link
  • Tặng bạn đọc thành viên