RSS
NHỮNG LÀNG NGHỀ BÊN THÀNH HOÀNG ĐẾ - Kỳ 2:

Làng rèn làng đúc chen vai

03/02/2017 10:13 GMT+7

TTO - Những tiếng búa của làng rèn Nam Tân, Tây Phương Danh và làng đúc Bằng Châu quanh thành xưa vẫn rậm rịch mỗi ngày. 

Anh Trương Văn Bằng, 40 tuổi, rèn với máy búa ở lò rèn của mình - Ảnh: H.V.M.
Anh Trương Văn Bằng, 40 tuổi, rèn với máy búa ở lò rèn của mình - Ảnh: H.V.M.

“Qua nhiều thăng trầm, lận đận, nay thì làng đúc Bằng Châu mình đã trụ lại được, đã thích ứng được với thị trường đồ đúc, nhất là đồ đúc cho máy móc thay hàng ngoại nhập. Vậy là người thợ Bằng Châu đã giữ được cái tiếng của làng nghề từ ông cha để lại...

Ông Đào Tấn Minh

Nhìn cảnh làm ăn nhộn nhịp ở hai làng nghề này, tưởng như thời những người thợ ở đây đang dốc sức làm binh khí cho các cuộc tiến quân của anh em nghĩa quân Tây Sơn ngày nào...

Rộn ràng tiếng búa lò rèn

Mới 6h sáng, những lăng miếu quanh Tử Cấm Thành đã bị đánh thức bởi tiếng búa vang lên từ những lò rèn nằm bên khu thành nội.

“Nghề rèn phải chịu lửa nên mình phải làm sớm để nghỉ trưa sớm. Nhưng thời nay đỡ cực rồi, nhờ có cái quạt máy...” - ông Trương Cẩn, vị “lão tướng” 80 tuổi ở làng rèn Nam Tân, vừa nói vừa giũa một chiếc rựa.

Để giữ được ngọn lửa rèn trước sự lấn lướt của hàng rèn, hàng đúc Thái Lan, Trung Quốc, người thợ ở đây đã gian nan không ít.

Phải cơ giới hóa nghề rèn trong cuộc cạnh tranh với hàng ngoại, một số thợ trẻ ở Nam Tân đã chắt bóp vốn liếng để sắm búa máy (búa điện), lò thổi (nấu/nung sắt) bằng điện, máy đột (cắt) sắt định hình.

“Năm 2004, sau khi theo học khóa học về cơ khí ở Quy Nhơn, tui sắm búa máy, lò điện thay cho búa tay, lò thổi bằng than để tăng sản lượng, hạ giá sản phẩm. Có hai loại máy này mình tăng năng suất gấp năm, gấp mười so với rèn theo lối thủ công...” - anh Trương Văn Bằng (40 tuổi), một trong số năm chủ lò mở ra việc cơ giới hóa nghề rèn ở Nam Tân, kể lại.

Ngoài làm ra thành phẩm, những lò rèn ở Nam Tân còn chuyên dập ra phôi (sản phẩm mới qua sơ chế) để bán cho các lò rèn khác đem về gia công khâu cuối.

Nhờ có phôi, người thợ ít tốn sức hơn nên lớp thợ già, cả đến phụ nữ vẫn làm được; hàng làm ra được nhiều, nhanh, đủ để bán sỉ, lại bán với giá phải chăng nên dễ bán hơn trước.

Phôi từ các lò rèn máy ở đây còn được bán cho bạn hàng các vùng Quảng Ngãi, Quảng Nam, Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Tây nguyên.

Từ khi có các lò rèn cơ giới, Nam Tân nay chỉ còn 30 lò thủ công, giảm hơn phân nửa so với thời sau hòa bình - thời cực thịnh của rèn Nam Tân, nhưng số sản phẩm làm ra lại nhiều hơn, đa dạng và có chất lượng hơn.

Kịch bản phát triển của Nam Tân cũng là của Tây Phương Danh - làng rèn được “sinh ra” từ Nam Tân và nối dài với Nam Tân. Sinh sau mà lại nhanh nên vai nên vóc, Tây Phương Danh trở thành làng rèn lớn bên cạnh Nam Tân.

“Tây Phương Danh hiện có hơn 600 hộ, trước năm 2000 có đến 97% số hộ theo nghề rèn. Nay chỉ còn 80% số hộ rèn, nhưng 20% còn lại cũng sống dựa nghề rèn, từ buôn bán sắt, phụ liệu nghề rèn, buôn bán hàng rèn...” - bí thư chi bộ khu Tây Phương Danh Nguyễn Đình Long cho biết.

Thợ đúc Phan Tường Thiệu bên những sản phẩm mới của làng đúc Bằng Châu như nhông đồng, khoen đồng dùng cho nghề đánh bắt cá xa bờ - Ảnh: H.V.M.
Thợ đúc Phan Tường Thiệu bên những sản phẩm mới của làng đúc Bằng Châu như nhông đồng, khoen đồng dùng cho nghề đánh bắt cá xa bờ - Ảnh: H.V.M.

Sáng danh thợ đúc Bằng Châu

Lò đúc của thợ Bằng Châu được dựng tại nhà, bên những con đường trải nhựa, trải bêtông trong khu dân cư mang dáng dấp phố thị. Mang ra hai chiếc chuông đồng mới được đúc, ông Trần Néo, 79 tuổi, không giấu được niềm vui khi chúng có tiếng ngân vừa vang xa, vừa trong trẻo và ấm.

“Đúc đồ tiếng công phu lắm. Nhiều khi cái chuông đúc xong kêu tiếng không vừa ý thì người thợ phải đành phá đi để đúc lại. Để được gọi là làng đúc thì cái chính là người thợ của làng phải biết đúc đồ tiếng như chuông, chiêng, thanh la.

Còn đúc những đồ dùng khác như nồi, thau, đồ thờ tự... tuy không dễ nhưng cũng không quá khó như đúc đồ tiếng...” - ông Néo, người thợ đúc cao tuổi nhất của Bằng Châu, giải thích.

Nhưng làng đúc Bằng Châu không dễ giữ nghề trước sức xâm lấn ồ ạt của các mặt hàng công nghiệp thay thế. Và thế cùng tất biến, từ đúc đồng chuyển sang đúc nhôm chưa đủ, thợ Bằng Châu lại mày mò học tiện, học đúc kim loại.

“Hơn 10 năm nay thợ làng mình chuyển qua đúc các linh kiện cho máy bơm nước, máy tàu thủy. Vậy là mình phải nắn khuôn, đúc, tiện, giũa.

Linh kiện máy móc buộc mình làm phải thật chuẩn, thật chính xác. Khó ghê lắm, nhưng nhờ cái tay nghề của thợ đúc đồng nên thợ ở đây đã làm được. Hàng mình làm có chất lượng, được khách hàng tin dùng lắm...” - anh Trần Hữu Chí (42 tuổi) nói trong lúc đang hoàn thiện một linh kiện máy nước anh mới đúc xong tại lò đúc ở nhà.

Năm năm nay một số thợ Bằng Châu mở xưởng đúc lớn hơn tại cụm công nghiệp Đá Trắng nằm kề làng mình.

Tài nghệ của nghề đúc được thừa kế từ tổ phụ hàng trăm năm trước dẫn bước cho người thợ Bằng Châu thời nay, họ không chỉ bắt nhịp được mà còn sáng tạo trong công nghệ đúc mới, tiếp cận được với nhu cầu thực tiễn của khách hàng.

“Tụi tui đang đúc các mặt hàng như cảo (tời) kéo lưới, nhông đồng cho tời của giã cào hay khoen đồng, khoen chì cho lưới các tàu cá xa bờ. Rồi còn đúc một số linh kiện cho các máy thủy điện nữa. Làm hoài cũng không hết việc...” - anh Đặng Văn Hưng (48 tuổi), với 20 năm làm thợ khuôn và cũng là thợ đúc đồng Bằng Châu đang làm cho xưởng đúc Đường Minh, cho biết.

Thật ấn tượng khi những người thợ đúc chỉ quen với các sản phẩm đúc truyền thống nay lại làm chủ được công nghệ cho ra những sản phẩm đúc dùng cho máy móc, cơ giới cùng nhiều sản phẩm đúc khác với nhiều công dụng.

“Qua nhiều thăng trầm, lận đận, nay thì làng đúc Bằng Châu mình đã trụ lại được, đã thích ứng được với thị trường đồ đúc, nhất là đồ đúc cho máy móc thay hàng ngoại nhập. Vậy là người thợ Bằng Châu đã giữ được cái tiếng của làng nghề từ ông cha để lại...” - chủ xưởng đúc Đường Minh, ông Đào Tấn Minh (62 tuổi) bày tỏ.

Theo ông Phạm Đình Đôn - phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Định, chính những bãi xỉ sắt to lớn ngày trước được tìm thấy ở quanh thành Hoàng Đế và vùng lân cận đã cho biết tổ tiên của những làng rèn bên thành Hoàng Đế này đã chế tác nên binh khí cho nghĩa quân Tây Sơn.

Còn chủ lò rèn Nguyễn Văn Ngọc (74 tuổi, ở Nam Tân) nói: “Cha tui kể lại rằng vị tổ nghề rèn của Nam Tân từ Nghệ An vào đây mở lò, truyền nghề cho nhiều người trước cả thời Tây Sơn. Đến thời Tây Sơn thì thợ rèn ở đây đã có đông rồi, họ chuyên lo rèn đao, kiếm với các khí giới khác cho quân Tây Sơn...”.

Kỳ tới: Lương khô của nghĩa quân

>> Kỳ 1: Tinh hoa gốm - mộc
HUỲNH VĂN MỸ - BẢO TRUNG

Bình Luận

Vui lòng nhập nội dung bình luận.

Gửi
Về đầu trang
Top