2022

Thách thức và vận hội mới
cho Việt Nam

Thế giới
2 năm Covid-19

Từ những căn bệnh "lạ" không rõ nguồn lây...

WHO vào cuộc

Đại dịch toàn cầu

Ngã rẽ chiến lược chống dịch

Cuộc đua kit xét nghiệm và vắc xin COVID-19

Biến thể Delta - kẻ thù của nhiều quốc gia

Những câu hỏi chưa lời giải

Ẩn số Omicron

Việt Nam

2 năm đại dịch

“Nếu chúng ta sẵn sàng…”

Hùng mạnh hơn
sau khủng hoảng

Câu chuyện doanh nghiệp vượt qua đại dịch và phát triển

Ngay sau những ngày giãn cách kết thúc vào đầu tháng 10-2020, ông Nguyễn Văn Thứ, giám đốc Công ty GC Food, đã liên tục có những chuyến công tác tại Đắk Lắk để chuẩn bị xây dựng nhà máy cấp đông củ quả dự kiến khởi công đầu năm 2022.

Nhà máy có tổng vốn đầu tư 100 tỉ đồng chuyên sơ chế và cấp đông các sản phẩm chủ lực như là bơ, sầu riêng, xoài, khoai lang… để xuất khẩu vào các thị trường như là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông…

Trong khi nhiều doanh nghiệp và ngành nghề chịu tác động nặng nề bởi dịch bệnh, kết quả kinh doanh của GC Food trong năm 2020 lại rất khả quan với hai sản phẩm chủ lực là thạch nha đam và thạch dừa cùng nhiều loại nông sản chế biến khác.

Theo ông Nguyễn Văn Thứ, dịch bệnh COVID-19 là khó khăn chung của tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt ngành sản xuất nông nghiệp. Việc sống chung với dịch là điều bắt buộc trong toàn xã hội để thích ứng với thời buổi dịch bệnh.

GF Food vẫn duy trì được đà tăng trưởng bởi vì đã xây dựng được nền tảng trong cả chục năm qua thông qua mối liên kết chặt chẽ với người dân tạo vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến sản phẩm đạt chuẩn cao của các nước nhập khẩu và quan hệ đối tác.

"Chúng tôi sẵn sàng sản xuất rồi xếp hàng trong kho để giúp người nông dân thu hoạch nguyên liệu và giúp cho người lao động có công ăn việc làm trong thời gian dịch bệnh", ông Thứ cho biết.

Việt Nam đang dần được lựa chọn thay cho Thái, Malaysia, Trung Quốc là điểm đến của "người mua lớn" từ Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc với các sản phẩm nông sản. Đó là lý do vì sao GC Food đầu tư nhà máy mới tại Đắk Lắk, bởi nơi đây có vùng nguyên liệu rất tốt để trồng các loại trái cây như bơ, xoài, sầu riêng, khoai lang…

Với việc xây dựng nhà máy mới tại Đắk Lắk cùng mở rộng vùng nguyên liệu các sản phẩm chủ lực, GC Food đặt kế hoạch doanh thu năm 2022 đạt 650 tỉ đồng, tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 50% như năm 2021. Trong đó, xuất khẩu đạt 350 tỉ (tăng trưởng 67%) và doanh thu nội địa đạt 300 tỉ đồng (tăng trưởng 47%).

Hoạt động của doanh nghiệp

Năm 2021, sự bùng phát mạnh của làn sóng COVID-19 lần thứ 4 cùng với các đợt phong tỏa nghiêm ngặt, giãn cách kéo dài (đặc biệt là quý 3-2021) đã tác động tiêu cực đến gia tăng số lượng doanh nghiệp.

Tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong năm 2021 đạt gần 160.000 doanh nghiệp, giảm 10,7% so với năm 2020; 119.800 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 17,8%, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thành lập dưới 5 năm, quy mô vốn nhỏ. Việc ban hành và triển khai kịp thời Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11-10-2021 trên phạm vi toàn quốc đã góp phần quan trọng trong khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp.

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý 1-2022 với 81,7% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn so với quý 4-2021.

Xuất khẩu đạt kỷ lục mới

Trong tháng 12-2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỉ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỉ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%

Trong năm 2021 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, chiếm 93,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD, chiếm 69,7%).

Công nghiệp tiếp tục khởi sắc sau giãn cách

Sản xuất công nghiệp trong quý 4-2021 khởi sắc ngay sau khi các địa phương trên cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11-10-2021 của Chính phủ về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 . Tính chung cả năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,82% so với năm 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%.

Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Tivi các loại giảm 40,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 18,4%; đường kính giảm 8,5%; bia các loại giảm 7,8%; dầu mỏ thô khai thác giảm 6,5%; thủy hải sản chế biến và thức ăn cho thủy sản cùng giảm 3,9%.

Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết xuất khẩu nông, lâm thủy sản năm 2021 đạt mức cao kỷ lục trên 48,6 tỉ USD, vượt hơn 6 tỉ USD so với Chính phủ giao.

Năm 2021, có 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD là gỗ và sản phẩm gỗ; tôm; rau quả; hạt điều; gạo, cao su.

Để có kết quả ấn tượng như vậy, những ngành đóng góp chủ lực phải kể đến là trồng trọt. Trong đó nông sản chính 21,49 tỉ USD, lâm sản chính 15,96 tỉ USD, thủy sản trên 8,89 tỉ USD, chăn nuôi 434 triệu USD. Năm 2021, giá trị gia tăng toàn ngành cũng tăng 2,85 - 2,9%, tỉ lệ che phủ rừng 42,02%; tỉ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới 68,2%.

Theo TS Nguyễn Đăng Nghĩa, Giám đốc trung nghiên cứu và tư vấn nông nghiệp nhiệt đới, qua hai năm đại dịch COVID-19 rất nhiều ngành hàng bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều chuỗi cung ứng bị đứt gãy, nhiều ngành nghề suy giảm sản lượng doanh số nhưng nông nghiệp và thực phẩm vẫn tiếp tục tăng trưởng. Bởi dù kinh tế, khoa học, công nghệ có phát triển đến thế nào đi chăng nữa thì nhu cầu về ăn uống, dinh dưỡng của con người vẫn là một trong những nhu cầu quan trọng và cơ bản nhất, không thể cắt giảm.

Với vị thế là một cường quốc sản xuất và xuất khẩu nhiều nông sản và thực phẩm quan trọng cho toàn thế giới như lúa gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, ca cao, khoai mì, tôm, cá tra, trái cây… Việt Nam càng có cơ hội củng cố vị thế nhà cung cấp hàng đầu và thêm cơ hội cung cấp hàng hóa cho khách hàng. Với những thế mạnh đã có và xu hướng ngày càng lựa chọn thực phẩm tươi, an toàn, nông sản Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm sắp tới. Hơn nữa, nông sản ngày nay gắn liền với thực phẩm.

Chúng ta đã có những nguồn nguyên liệu rất lớn, chất lượng được kiểm chứng qua xuất khẩu đi hàng trăm nước, đây là cơ hội để ngành chế biến thực phẩm của Việt Nam phát triển dựa trên các thế mạnh này. Tôi đã thấy nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các nhà máy chế biến sâu để đưa sản phẩm có giá trị gia tăng xuất khẩu thay vì xuất khẩu nguyên liệu.

Khi quỹ đất cho trồng trọt và chăn nuôi đã hết, năng suất cây trồng vật nuôi đạt tới ngưỡng, chế biến chính là động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp của Việt Nam trong tương lai. Nông nghiệp sẽ tiếp tục là bệ đỡ của nền kinh tế trong thời gian dài sắp tới.

2022 và vận hội mới cho
Việt Nam

Đây là lúc để chúng ta hít một hơi thật sâu và tin rằng tình huống tệ nhất đã nằm lại sau lưng

Ông Tim Evans

Tổng giám đốc HSBC Việt Nam

Nhiều xu hướng mới giúp doanh nghiệp phải thay đổi, thích ứng

Ông Nguyễn Hồng Diên

Bộ trưởng Bộ Công Thương

Tỷ lệ tiêm chủng ấn tượng sẽ hỗ trợ sự phục hồi của sản xuất và dịch vụ

Ông Andrew Jeffries

Giám đốc quốc gia của ADB tại
Việt Nam

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được dự báo sẽ duy trì và có thể mở rộng hơn

Bà Nguyễn Thị Hương

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch
và đầu tư

Doanh nghiệp Việt Nam đừng quên thị trường nội địa

TS. Đậu Anh Tuấn

Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Việt Nam đang thích ứng với xuất khẩu khá tốt

GS. Hoàng Văn Cường

Phó hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế quốc dân, đại biểu Quốc hội khóa XV

Động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế năm 2022 sẽ nằm ở đầu tư công

PGS.TS Tô Trung Thành

Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Đại học Kinh tế Quốc dân

Nội dung: Hàng Duy Linh - Lan Anh - Trần Mạnh - Ngọc An - Bảo Ngọc - Như Bình

Hình ảnh: Ngọc Hiển - Tấn Lực - Bửu Đấu - Duyên Phan - Nam Trần - Nguyễn Khánh

Thiết kế: VŨ HOÀNG - HẢI PHI   Trình bày: ĐÌNH KHÁNH    Concept: BẢO SUZU

Tổ chức thực hiện: CÁT KHUÊ

Một bệnh nhân COVID-19 được chuyển tới Bệnh viện Chữ thập đỏ Vũ Hán ngày 25-1-2020, giai đoạn đầu dịch bùng phát tại Trung Quốc - Ảnh: AFP

Từ căn bệnh “lạ” không rõ nguồn lây…

Giữa tháng 12 năm 2019, khu chợ hải sản Hoa Nam của thành phố Vũ Hán (Hồ Bắc, Trung Quốc) bắt đầu xuất hiện một hiện tượng lạ: gần chục tiểu thương trong chợ bỗng dưng sốt và khó thở. Số người có triệu chứng tương tự tăng lên vài chục trong vòng vài tuần sau đó.

Tất cả được đưa vào bệnh viện với chẩn đoán ban đầu là “viêm phổi do virus” nhưng virus đó là gì thì không ai rõ. Trên truyền thông, nhiều tờ báo dùng tính từ “lạ” hoặc “bí ẩn” để mô tả về nguồn gốc căn bệnh.

Đến ngày 31-12-2019, chính quyền Vũ Hán ghi nhận 27 trường hợp mắc “viêm phổi lạ”, tất cả đều liên quan đến chợ Hoa Nam. Một số chuyên gia và bác sĩ địa phương nghi ngờ về sự trở lại của virus gây hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS), trong đó có vị bác sĩ 32 tuổi Lý Văn Lượng. Chính quyền Vũ Hán triệu tập và khiển trách bác sĩ Lý vì “lan truyền tin đồn thất thiệt”, một quyết định sau đó bị người dân và chính quyền trung ương cho là nóng vội, sai lầm.

Ngoài những triệu chứng tương đồng, lý do khiến bác sĩ Lượng và những đồng nghiệp tin SARS đã trở lại sau 16 năm là vì chưa có vắc xin nào được phát triển. Trong lịch sử nhân loại, không một dịch bệnh nào biến mất vĩnh viễn mà không có sự can thiệp của vắc xin. Tuy nhiên theo các quan chức địa phương, vào cuối tháng 12-2019, không có dấu hiệu nào cho thấy virus gây bệnh “viêm phổi lạ” có thể lây từ người sang người.

Ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO (giữa), trong cuộc họp báo ngày 11-3 tuyên bố dịch bệnh COVID-19 đã là đại dịch - Ảnh: AFP

WHO vào cuộc

Ngày 31-12-2019, văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Trung Quốc nhận được thông tin về căn bệnh “viêm phổi lạ” tại Vũ Hán. Trong vòng 2 ngày sau đó, WHO kích hoạt hệ thống quản lý sự cố ở cả 3 cấp độ là văn phòng quốc gia, văn phòng khu vực và trụ sở chính tại Geneva (Thụy Sĩ).

Ngày 7-1-2020, Trung Quốc xác định một chủng mới của virus corona là tác nhân gây bệnh viêm phổi lạ tại Vũ Hán, hai ngày trước đó các nhà khoa học Trung Quốc chia sẻ trình tự di truyền của virus lên một cơ sở dữ liệu trực tuyến. Từ giai đoạn này virus gây bệnh được gọi bằng tên ngắn gọn là 2019-nCoV.

Ngày 11-1, bệnh nhân chết vì 2019-nCoV đầu tiên được ghi nhận tại Vũ Hán là một người đàn ông 61 tuổi thường xuyên đến chợ Hoa Nam. Tin tức về cái chết của ông xuất hiện ngay trước kỳ “Xuân vận”, thời điểm hàng trăm triệu người trở về quê đón Tết Nguyên đán cùng gia đình. Vào cuối tháng 1, tổng giám đốc WHO đến Trung Quốc và gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng các quan chức y tế, ngoại giao khác

Tàu bệnh viện USNS Comfort của hải quân Mỹ được điều đến thành phố New York ngày 30-3-2020 khi số ca tử vong vì COVID-19 tại Mỹ xấp xỉ gần 3.000 người - Ảnh: AFP

Đại dịch toàn cầu

Ngày 13-1-2020, Thái Lan ghi nhận ca mắc 2019-nCoV đầu tiên bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Danh sách các quốc gia có ca nhiễm sau đó liên tục kéo dài từ châu Á sang châu Âu và Bắc Mỹ. Tại Mỹ, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) kích hoạt quy trình xử lý khẩn cấp, rà soát hành khách trên các chuyến bay từ Vũ Hán. Tuy nhiên các nỗ lực này không ngăn chặn được dịch lan vào nước Mỹ và đến ngày 20-1 thì chính thức ghi nhận ca bệnh đầu tiên là một người vừa về từ Vũ Hán.

WHO xác nhận 2019-nCoV có thể lây từ người sang người vào ngày 22-1 và triệu tập một cuộc họp của Ủy ban Quy chế y tế quốc tế khẩn cấp trong cùng ngày. Tuy nhiên cuộc họp đi tới quyết định không ban bố tình trạng khẩn cấp y tế công cộng quốc tế vì 2019-nCoV. Thay vào đó, ủy ban thống nhất tiếp tục theo dõi tình hình và nhóm họp trở lại sau 10 ngày để thảo luận tiếp. Quyết định này đã khởi đầu cho sự thất vọng và những chỉ trích mạnh mẽ WHO trên khắp thế giới về sau.

Hoa và ảnh tưởng niệm bác sĩ Lý Văn Lượng tại Bệnh viện Trung ương Vũ Hán sau khi anh qua đời ngày 7-2-2020 - Ảnh: REUTERS

Ngày 31-1-2020, WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp y tế cộng cộng quốc tế do virus corona chủng mới. Vào thời điểm đó, đã có hơn 210 người chết tại Trung Quốc và gần 9.800 người bị nhiễm trên toàn thế giới.

Ngày 11-2, khi số người chết toàn cầu vượt mốc 1.000 (bao gồm trường hợp đầu tiên được ghi nhận bên ngoài Trung Quốc và bác sĩ Lý Văn Lượng), Ủy ban Quốc tế về phân loại virus quyết định đổi tên 2019-nCoV thành virus SARS-CoV-2. Cùng ngày, WHO gọi căn bệnh do SARS-CoV-2 gây ra là COVID-19, ghép từ chữ “coronavirus”, “disease” và “2019”. Bắt đầu từ đây, SARS-CoV-2 và COVID-19 trở thành hai tên gọi gây ám ảnh ở mỗi quốc gia, vùng đất.

Ngày 11-3-2020, WHO chính thức tuyên bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu khi số ca nhiễm đã lan tới hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ khiến hơn 4.600 người chết.

Một khu vực tại Tây An bị phong tỏa ngày 20-12 - Ảnh- REUTERS

Ngã rẽ chiến lược chống dịch

Thành phố 11 triệu dân Vũ Hán, nơi bùng phát dịch đầu tiên trên thế giới, bắt đầu phong tỏa theo kiểu “nội bất xuất ngoại bất nhập” từ ngày 23-1-2020. Mọi tuyến đường bộ và hàng không nối với thành phố này đều bị chặn đứng. Việc phong tỏa cứng thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc đã tạo tiền lệ cho các thành phố khác ở Trung Quốc và trên thế giới. Tổng cộng có khoảng 57 triệu người ở Trung Quốc bị ảnh hưởng khi Vũ Hán và hơn một chục thành phố lớn nhỏ khác phong tỏa cứng từ ngày 23-1 đến ngày 8-4 cùng năm.

Giai đoạn “Vũ Hán phong thành” chứng kiến số ca nhiễm mới tăng vọt tại Trung Quốc, lần lượt đạt mốc 3 con số rồi 4 con số và chạm đỉnh 13.130 ca vào ngày 13-2 theo số liệu của WHO truy cập ngày 4-11-2021. Số ca nhiễm mới bắt đầu giảm sau ngày này và chưa bao giờ vượt quá 3 con số kể từ đó đến nay. Thành công của Trung Quốc trong việc khống chế dịch, quyết liệt truy vết sau đó trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước còn Trung Quốc trở thành đại diện tiêu biểu cho chiến lược “zero-covid”.

Tại châu Âu, Mỹ và một số nước phương Tây khác, các lệnh phong tỏa trở thành biện pháp can thiệp phi dược phẩm của chính quyền, được biết dưới các tên gọi và hình thức khác như giới nghiêm, trú ẩn tại gia, giãn cách xã hội,…Tuy nhiên diễn biến dịch bệnh lại phức tạp nhanh chóng so với Trung Quốc với số ca nhiễm và tử vong tăng vọt trong cùng thời điểm số ca tại Trung Quốc đi xuống. Sự khác biệt về chính trị, bối cảnh xã hội thường được xem là nguyên nhân dẫn đến kết quả khác biệt.

Sau khi Ý trải qua đợt bùng dịch ở phía bắc, Mỹ trở thành điểm nóng của thế giới từ cuối tháng 3-2020 và liên tục là nước bị ảnh hưởng nặng nhất bởi đại dịch cho đến thời điểm hiện tại cả về số lượng ca mắc và chết.

Khử trùng tại khu vực tòa nhà ở Rome (Ý) ngày 8-3-2020 - Ảnh: AP

Theo báo New York Times, Mỹ đã mắc phải một loạt sai lầm nghiêm trọng và bỏ qua nhiều cơ hội để khống chế dịch. Cộng thêm bối cảnh xã hội, hệ thống liên bang nơi mỗi bang duy trì các quyền lực độc lập với trung ương đã khiến Mỹ thành điểm nóng.

Dù ở quốc gia nào, sự quá tải của hệ thống y tế khi phải đón nhận một lượng lớn bệnh nhân trong thời gian ngắn là điều khó tránh khỏi. Từ thực tế đó, đã có những thay đổi tại các nước như Mỹ và châu Âu như cho tự cách ly, điều trị tại nhà, chỉ nhập viện với các trường hợp nặng.

Vắc xin Sputnik V của Nga khi mới được đăng ký tháng 8-2020 - Ảnh: AFP

Cuộc đua kit xét nghiệm và vắc xin COVID-19

Trong giai đoạn đầu dịch bùng phát, câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào để phân biệt được người mắc COVID-19 và các trường hợp khác. Năng lực xét nghiệm vào buổi đầu đại dịch rất hạn chế do thiếu bộ xét nghiệm và thời gian cho kết quả lâu, kết quả cho ra không đáng tin cậy.

Tại Trung Quốc, để hạn chế việc bỏ sót người nhiễm ngoài cộng đồng, từ ngày 13-2-2020 chính quyền tỉnh Hồ Bắc (nơi có Vũ Hán) gộp luôn các trường hợp chỉ mới nghi nhiễm qua chẩn đoán lâm sàng và số ca dương tính đã xác nhận bằng xét nghiệm vào số ca nhiễm hàng ngày.

194 loại vắc xin đang trong giai đoạn tiền lâm sàng, thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và trên động vật; 32 loại thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 trên người trẻ khỏe mạnh; 46 loại thử nghiệm giai đoạn 2; 39 loại đang thử nghiệm giai đoạn 3 đánh giá hiệu quả với COVID-19; 21 loại vắc xin đang được sử dụng cho các chiến dịch tiêm chủng đại trà – Nguồn: GAVI)

Dựa trên trình tự di truyền của virus được Trung Quốc chia sẻ từ đầu tháng 1-2020, một số công ty đã bắt đầu phát triển các bộ xét nghiệm. Tuy nhiên việc thiếu sinh phẩm và chuỗi cung ứng gián đoạn tạo ra điểm nghẽn toàn cầu khiến tỉ lệ xét nghiệm đặc biệt thấp trong giai đoạn đầu dịch. Giai đoạn này cũng chứng kiến cuộc khủng hoảng thiếu khẩu trang y tế, thiết bị bảo hộ y tế cá nhân và máy thở các loại ở nhiều nước do chuỗi cung ứng Trung Quốc bị đình trệ vì dịch.

Vào khoảng cuối tháng 2 và đầu tháng 3-2020, sau những thất bại ban đầu (bao gồm cả bộ xét nghiệm do CDC Mỹ phát triển), các bộ xét nghiệm có tính chính xác hơn bắt đầu xuất hiện. Từ đây các công ty bước vào giai đoạn chạy đua tạo ra các bộ xét nghiệm cho kết quả ngày càng nhanh và cải thiện độ chính xác.

Cũng trong giai đoạn này, các hãng dược phẩm bắt đầu cuộc đua giành “chén thánh” vắc xin COVID-19. Theo CDC Mỹ, Moderna là hãng dược đầu tiên của nước này thử nghiệm lâm sàng trên người vào ngày 17-3-2020. Tại Trung Quốc, các nỗ lực nghiên cứu cũng diễn ra với sự phối hợp giữa các viện nghiên cứu của quân đội và các công ty dược phẩm hàng đầu nước này. Vào thời điểm này, WHO dự đoán nhân loại sẽ không thể có được vắc xin trong vòng 18 tháng, xét đến việc phát triển các loại vắc xin khác phải mất ít nhất vài năm vì trải qua các quy trình an toàn và cấp phép nhiêu khê.

Sự bùng phát của dịch COVID-19 và tác động sâu rộng của nó đã thúc đẩy nỗ lực phát triển vắc xin mạnh mẽ chưa từng có. Vào tuần cuối cùng tháng 4-2020, số ca tử vong vì COVID-19 vượt mốc 200.000 tính trên toàn cầu (gấp gần 45 lần chỉ trong vòng 1 tháng), với hơn 2,8 triệu người mắc.

Bước sang tháng 5, chính quyền Donald Trump tại Mỹ công bố chiến dịch “Thần Tốc”, đặt mục tiêu hoàn tất việc phát triển, sản xuất và cung cấp vắc xin trước cuối năm 2020. Người Mỹ chấp nhận đầu tư rủi ro vào 14 loại vắc xin tiềm năng, đánh cược với việc những loại vắc xin này có thể thất bại thậm chí vào giai đoạn cuối cùng.

Anh, Trung Quốc, Nga, Pháp,…cũng gia nhập cuộc đua với các ứng viên vắc xin sử dụng công nghệ vector virus, virus bất hoạt, protein tái tổ hợp,…cạnh tranh với mRNA của Pfizer/BioNTech và Moderna của Mỹ. Ngày 11-8-2020 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi vắc xin Sputnik V do Viện Gamaleya của Nga trở thành vắc xin COVID-19 đầu tiên trên thế giới được đăng ký với cơ quan quản lý y tế.

Sau động thái của Nga, cuộc đua vắc xin toàn cầu ngày một quyết liệt hơn trước. Không một hãng dược và quốc gia nào đang nghiên cứu vắc xin muốn về đích sau chót. Lần lượt trong các tháng sau đó AstraZeneca của Anh – Thụy Điển, Pfizer/BioNTech và Moderna của Mỹ hay Sinopharm, Sinovac của Trung Quốc đều tuyên bố bước vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 – giai đoạn đánh giá an toàn và hiệu quả với COVID-19.

Vắc xin COVID-19 của Hãng dược Johnson & Johnson - Ảnh- REUTERS

Sự cạnh tranh giữa các quốc gia và hãng dược đã giúp nhân loại có được vắc xin COVID-19 trong thời gian chưa tới 1 năm. Ngày 31-12-2020, sau khi được phê duyệt sử dụng khẩn cấp tại Mỹ, Anh và Liên minh châu Âu cùng một số quốc gia khác, vắc xin của Pfizer/BioNTech trở thành vắc xin đầu tiên được WHO cấp phép sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Trong vòng 6 tháng sau đó, WHO tiếp tục phê duyệt thêm vắc xin của AstraZeneca và một số phiên bản ở các nước, Moderna, Johnson&Johnson, Sinopharm/BIBP, Sinovac và mới nhất vào đầu tháng 11-2021 là Covaxin của hãng dược Bharat Biotech của Ấn Độ. Ngày 23-8, Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ cấp phép đầy đủ cho vắc xin Pfizer/BioNTech dùng cho người từ 16 tuổi trở lên.

Đây là loại vắc xin đầu tiên được Mỹ cấp phép đầy đủ, mở đường cho các yêu cầu bắt buộc tiêm vắc xin ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực tại nước này.

Các hãng hàng không Mỹ đã hủy rất nhiều chuyến bay do tình hình bùng phát dịch - Ảnh- REUTERS

Biến thể Delta – kẻ thù của nhiều quốc gia

Sau gần 1 năm bùng phát, các biến thể mới, nguy hiểm hơn của SARS-CoV-2 vì dễ lây lan bắt đầu xuất hiện, điều mà giới khoa học cho là một phần quá trình tiến hóa tự nhiên của virus. Biến thể Alpha được ghi nhận lần đầu tiên tại Anh từ tháng 9-2020 và bắt đầu bùng phát mạnh trong 3 tháng sau đó.

Với đặc tính dễ lây lan từ người sang người cao hơn 30-50% so với biến chủng gốc, Alpha trở thành biến thể thống trị, chiếm đa số các ca mắc mới ở nhiều nước. Ngày 18-12-2020, WHO đưa Alpha vào danh sách “biến thể đáng lo ngại” (VOC) cùng với biến thể Beta và vài tuần sau đó là Gamma (ngày 11-1-2021). Tuy nhiên tất cả những biến thể VOC này đều bị biến thể Delta lấn lướt.

Biến thể Delta ghi nhận lần đầu tại Ấn Độ vào tháng 10-2020 nhưng đến đợt bùng dịch thứ hai bắt đầu từ tháng 2-2021 mới gây chú ý. Số ca nhiễm mỗi ngày tại nước này đã tăng từ vài ngàn lên vài chục ngàn và chạm đỉnh hơn 414.000 ca vào ngày 7-5 trước khi giảm nhưng vẫn duy trì ở mức 4 và 5 con số.

Trong đợt bùng dịch thứ hai này, có những ngày Ấn Độ đứng đầu thế giới về số ca nhiễm mới, số ca nhiễm mỗi ngày của riêng nước này bằng tổng số ca nhiễm trên toàn thế giới gộp lại như tuần từ ngày 3 đến ngày 9-5, theo số liệu của WHO truy cập ngày 5-11.

Tại một điểm tiêm vắc xin COVID-19 ở thành phố Ahmedabad, Ấn Độ ngày 30-6, cảnh sát yêu cầu người đi tiêm vắc xin xếp hàng trật tự chờ đến lượt - Ảnh: REUTERS

Điều tra dịch tễ cho thấy Delta là thủ phạm làn sóng lây nhiễm thứ hai tại Ấn Độ, chiếm gần 80% số ca mắc trong giai đoạn này. Sự xuất hiện của Delta không chỉ gây căng thẳng cho hệ thống y tế Ấn Độ mà còn ảnh hưởng đến chiến dịch tiêm chủng của thế giới. Chính phủ Ấn Độ quyết định ngừng xuất khẩu vắc xin để tập trung cho việc tiêm chủng trong nước khiến nguồn cung vắc xin thế giới bị ảnh hưởng, do đây là nước sản xuất vắc xin lớn nhất thế giới.

Sau Ấn Độ, biến thể Delta lan sang các nước khác và làm chậm, thậm chí phá hủy các thành tựu chống dịch tại nhiều nước. Ngày 11-5, WHO phân loại Delta là biến thể đáng lo ngại, với các dữ liệu sơ bộ cho thấy mức độ dễ lây cao hơn.

Ở Vương quốc Anh, ca mắc biến thể Delta đầu tiên ghi nhận vào giữa tháng 4, thời điểm nước Anh vừa trải qua đợt phong tỏa dài và chiến dịch tiêm chủng nhanh khiến số ca mắc và tử vong vì COVID-19 đều giảm. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 8 tuần sau đó, Delta đã làm bùng phát đợt dịch thứ ba tại nước Anh và trì hoãn kế hoạch mở cửa đất nước.

Trong tháng 6 và tháng 7, biến thể Delta tiếp tục lan sang các nước và vùng lãnh thổ khác, từ Mỹ đến châu Âu lục địa, Đông Nam Á, Đông Bắc Á, Úc, New Zealand,... Nhiều nghiên cứu lớn nhỏ đều chỉ ra tỉ lệ nhập viện của người mắc biến thể Delta cao hơn biến thể Alpha. Vào giữa tháng 7, CDC Mỹ phải thay đổi khuyến cáo, khuyên người đã tiêm vắc xin nên đeo khẩu trang và giữ khoảng cách sau khi nói rằng họ không cần làm như vậy vào tháng 3. Nguyên nhân không gì khác chính là biến thể Delta.

Mặc dù Delta nguy hiểm, có thể tấn công cả người đã tiêm vắc xin đủ liều và tàn phá nhiều hệ thống y tế, giới khoa học phần lớn đều đồng ý rằng vắc xin vẫn hiệu quả trong việc giảm nguy cơ nhập viện và tử vong. Sự xuất hiện của biến thể này cũng thúc đẩy các chiến dịch tiêm tăng cường, tiêm nhắc lại ở những nước có tỉ lệ tiêm chủng cao, các biện pháp bắt buộc tiêm vắc xin ở những nước ban đầu còn tỏ ra miễn cưỡng.

Cảnh sát và nhân viên mặc đồ bảo hộ kiểm tra giấy tờ của một hành khách ở lối vào nhà ga xe lửa ở Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc - Ảnh- REUTERS

Những câu hỏi chưa lời giải

Dù COVID-19 sắp sửa bước sang năm thứ ba, nguồn gốc của căn bệnh này vẫn còn là điều bí ẩn và nhiều lúc những tranh cãi về vấn đề này nhuốm màu chính trị hơn khoa học. Nhóm chuyên gia độc lập do WHO dẫn dắt và các chuyên gia Trung Quốc đã tiến hành cuộc điều tra thực địa vào cuối tháng 1 và đầu tháng 2-2021. Báo cáo chung chỉ ra rằng rất khó có khả năng virus SARS-CoV-2 bị rò rỉ từ phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên một số nước không chấp nhận kết quả báo cáo này và kêu gọi một cuộc điều tra độc lập quốc tế khác. Trung Quốc đã bác bỏ mọi giả thuyết nước này tạo ra virus, thậm chí một số nhà ngoại giao nước này còn thúc đẩy thuyết âm mưu virus là sản phẩm của nước ngoài và họ chỉ là nạn nhân của COVID-19.

Với những người hướng về tương lai, câu hỏi lớn nhất là liệu đại dịch sẽ kéo dài đến bao giờ và sẽ còn bao nhiêu biến thể nguy hiểm nữa sẽ xuất hiện? Đối với vấn đề này, một luồng ý kiến cho rằng thế giới sẽ không an toàn cho đến khi tất cả đều an toàn.

Các chuyên gia WHO đến Viện virus học Vũ Hán trong chuyến đi thực địa Trung Quốc đầu tháng 2-2021 - Ảnh: AP

Theo WHO, đối mặt với loại virus đang tiến hóa nhanh chóng và dễ lây lan, để hồi phục kinh tế, ngăn chặn các biến thể mới và giảm số ca tử vong vì COVID-19, cần phải tiêm đầy đủ ít nhất 70% dân số thế giới. Tổ chức này đặt ra mục tiêu 10% dân số ở tất cả các nước được tiêm đầy đủ vào cuối tháng 9, 40% vào cuối tháng 12 và 70% trước cuối tháng 6 năm sau.

Tuy nhiên, trong báo cáo đầu tháng 10, WHO thừa nhận mục tiêu 10% đã thất bại khi có 56 quốc gia chiếm khoảng 20% dân số thế giới không đạt được ngưỡng này, 70 quốc gia/vùng lãnh thổ đạt mục tiêu trên 40%. Tỉ lệ tiêm chủng thấp nhất là ở các nước châu Phi, nơi thiếu các nguồn lực tài chính, y tế và cơ sở sản xuất vắc xin sẵn có.

Trong hội nghị nhóm G20 vừa qua và trước đó là các hội nghị quốc tế toàn cầu khác, các nước giàu của thế giới đã đưa ra nhiều cam kết hỗ trợ những nước nghèo, thu nhập thấp. Thời gian còn lại của năm 2021 và nửa đầu năm 2022 sẽ là lúc kiểm chứng mức độ thực hiện những lời hứa đó và mục tiêu miễn dịch cộng đồng toàn cầu.

Thời điểm xuất hiện các biển chủng COVID-19, Ảnh: THE SCIENTIST

Ẩn số Omicron

Lần đầu tiên được xác định ở Botswana và Nam Phi vào tháng 11, biến thể Omicron đã lây lan trên 100 quốc gia/vùng lãnh thổ chỉ trong vài tuần sau đó, nhanh hơn bất kỳ biến thể nào của COVID-19 được biết đến trước đây. Mặc dù còn rất nhiều điều mà các nhà khoa học vẫn chưa hiểu về Omicron, biến thể này đã lấn lướt biến thể Delta và chiếm ưu thế tại nhiều nước, đẩy số ca mắc mới tăng vọt.

Báo cáo của các nhà khoa học Nam Phi về một loại biến thể có hàng chục đột biến đã khiến WHO cảnh giác. Chỉ hai ngày sau đó, ngày 26-11, tổ chức này xếp Omicron vào nhóm các biến thể đáng lo ngại. Lại một lần nữa, Omicron làm được những điều mà các biến thể trước phải mất từ vài tuần đến vài tháng mới làm được.

Cho đến thời điểm hiện tại, cuộc chạy đua giải đáp các bí ẩn về Omicron vẫn chưa đến hồi kết. Biến thể này có những đột biến giống trên những biến thể đáng lo ngại khác, bao gồm các đột biến đã giúp Alpha, Beta hay Delta lây lan với tốc độ nhanh chóng và né được một phần hệ miễn dịch.

Mỹ và Anh, hai điểm nóng hàng đầu trong đợt bùng dịch vì Delta, tiếp tục thu hút sự chú ý khi các ca Omicron đầu tiên xuất hiện theo cách mà cho đến giờ người ta vẫn chưa lý giải được nguồn gốc lây nhiễm. Một người dân California từ Nam Phi trở về nhà được xác định là người Mỹ đầu tiên nhiễm Omicron.

Hình ảnh của biến thể Omicron do các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Hong Kong (Trung Quốc) ghi lại - Ảnh: HKU

Tuy nhiên có giả thuyết cho rằng trên thực tế, biến thể này có thể đã âm thầm xâm nhập từ trước và những người mắc biến thể này không được giải trình tự gene, dẫn đến việc họ được tính vào nhóm nhiễm Delta.

Ngày 18-12-2021, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ ước tính Omicron chiếm 73% tổng số ca nhiễm mới ở Mỹ. Tuy nhiên, chỉ 10 ngày sau đó, cơ quan này đính chính tỉ lệ ước tính chỉ là 23%. Việc điều chỉnh này khiến nhiều người lo hơn mừng vì trong tuần kết thúc vào ngày 26-12, biến thể Omicron chiếm 59% số ca mắc mới, tức tỉ lệ đang tăng lên chứ không phải giảm đi.

Vẫn còn rất nhiều câu hỏi chờ lời giải đáp trong năm 2022, đó là liệu Omicron có thực sự yếu hơn Delta, mức độ lây nhiễm bao nhiêu và liệu có làm giảm hiệu quả của vắcxin hay không. Đã có nhiều bằng chứng sơ bộ cho thấy Omicron dễ lây lan nhưng không gây bệnh nặng như Delta, người mắc biến thể này cũng ít nhập viện và tử vong hơn trước. Với những điều đó, rất nhiều người đang hy vọng Omicron là đêm cuối cùng trong chuỗi những ngày đen tối vì COVID-19, trở thành một căn bệnh đặc hữu như cúm mùa.

Những người cao tuổi ở phường Cô Giang, quận 1, TP.HCM chờ xét nghiệm để tiêm vắc xin - Ảnh- T.T.D

2 năm đại dịch

Việt Nam chính thức ghi nhận ca COVID-19 đầu tiên vào tháng 1-2020 và đến nay đã trải qua 4 làn sóng dịch, làn sóng thứ 4 đang kéo dài tới nay. Đợt dịch thứ 4 bắt đầu từ 24-4-2021 và là đợt dịch nặng nề nhất, gây hậu quả nghiêm trọng nhất.

Cho đến 15-12, cả nước ghi nhận gần 1,46 triệu ca mắc, 28.616 ca tử vong, trong đó riêng đợt dịch thứ 4 ghi nhận trên 1,43 triệu ca mắc, gần 28.600 ca tử vong.

Nhân viên y tế tại Bệnh viện hồi sức COVID-19 kiểm tra thông tin, điều trị cho bệnh nhân - Ảnh: DUYÊN PHAN

Chủng virus gây dịch trong làn sóng dịch thứ 4 là chủng Delta (xuất hiện lần đầu tại Ấn Độ và cũng gây những hậu quả nặng nề ở Ấn Độ), số ca bệnh nặng tăng 234% so với chủng cũ.

Trong 2 năm qua, vì dịch COVID-19, có rất nhiều việc “lần đầu tiên” được thực hiện.

Tháng 4-2020 lần đầu tiên giãn cách xã hội diện rộng (kéo dài 2-3 tuần tùy địa phương), khi nhiều bệnh viện, địa phương đông dân, đầu mối giao thông gia tăng số ca mắc.

Từ tháng 6-2021 là đợt giãn cách xã hội lớn nhất, kéo dài nhất (TP.HCM giãn cách xã hội các cấp độ trong 4 tháng, Hà Nội trong gần 3 tháng…), giao thông và vận chuyển hàng hóa ách tắc, giá thực phẩm tăng tại nhiều đô thị do đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa.

Cũng do dịch COVID-19, lần đầu tiên học sinh sinh viên nhiều tỉnh thành phải học trực tuyến kéo dài, đặc biệt là năm học 2021-2022, gần như toàn bộ học sinh Hà Nội và TP.HCM đã học trực tuyến gần trọn học kỳ 1.

Trong suốt cao điểm dịch tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam từ tháng 7-9, trong một thời gian ngắn số ca tử vong tăng rất nhanh, chưa bao giờ thiếu y bác sĩ , đặc biệt là y bác sĩ hồi sức cấp cứu đến như vậy. Bộ Y tế đã điều động hơn 20.000 y bác sĩ, học viên y khoa, quân y trong cả nước hỗ trợ cho các tỉnh phía Nam.

Nhờ lực lượng y bác sĩ điều động, hơn 10 Trung tâm Hồi sức tích cực bệnh nhân COVID-19 đã được mở tại khu vực phía Nam, nhiều nhất là tại TP.HCM, Bình Dương…, từ đó đã kéo giảm số ca tử vong từ cao điểm hơn 400 ca/ngày giữa tháng 8 xuống dưới 100 ca/ngày đầu tháng 10.

Tuy nhiên thời điểm hiện nay số ca tử vong lại gia tăng, Bộ Y tế lại vừa điều động 14 bệnh viện trung ương hỗ trợ 10 tỉnh thành có số mắc cao tại khu vực phía Nam, trong đó có TP.HCM.

Nhân viên y tế làm việc tại Bệnh viện Hồi sức COVID-19 TP Thủ Đức - Ảnh- DUYÊN PHAN

“Nếu chúng ta sẵn sàng…”

Có thể nói người Việt đã trải qua những thời khắc quan trọng trong 2 năm chống dịch. Trong 3 làn sóng dịch trước tháng 4-2021,khi số ca mắc còn hạn chế, chưa xâm nhập vào cộng đồng, Việt Nam áp dụng chiến lược chống dịch “Zero COVID”, tập trung khoanh vùng, truy vết, xét nghiệm nhanh để dập dịch.

Từ tháng 4-9 năm 2021, khi số ca mắc tăng nhanh, giai đoạn đầu chúng ta vẫn áp dụng phương pháp chống dịch là khoanh vùng, truy vết…

Nhưng khi chiến lược Zero COVID không còn khả thi do dịch đã thâm nhập sâu vào cộng đồng, tỉ lệ tiêm vắc xin COVID-19 tăng cao, từ tháng 10 trở lại đây Việt nam áp dụng “thích ứng an toàn với dịch”, thông qua 4 cấp độ dịch tương ứng với 4 màu: xanh (nguy cơ thấp), vàng (nguy cơ trung bình), cam (nguy cơ cao) và đỏ (nguy cơ rất cao).

Khi chuyển sang “thích ứng an toàn với dịch”, các tỉnh thành đã chuyển từ đóng cửa sang mở cửa trở lại. Khi mở cửa lại, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh đã sôi động trở lại, nhưng hạn chế là số ca mắc đã gia tăng lại từ tháng 10 đến nay, kéo theo số ca chuyển nặng và tử vong cũng gia tăng.

Tiêm vắc xin ngừa COVID-19 cho người dân Hà Nội - Ảnh- NAM TRẦN

Duy trì “thích ứng an toàn với dịch”, nhưng phải kéo giảm số ca tử vong. Ngay từ tháng 12, các địa phương đã triển khai tiêm chủng mũi bổ sung (mũi 3) cho người từ 50 tuổi và có bệnh nền, đây là nhóm nguy cơ cao nhất.

Dự kiến trong nửa đầu năm 2022, toàn bộ người từ 12 tuổi trở lên sẽ tiêm mũi vắc xin nhắc lại (mũi 3), năm 2022 sẽ tiêm chủng cho trẻ 5-11 tuổi khi Tổ chức Y tế thế giới phê duyệt vắc xin cho lứa tuổi này.

Một yêu cầu quan trọng nữa là phải sẵn sàng thuốc điều trị. Hiện có 5-6 công ty dược trong nước đã sẵn sàng sản xuất thuốc kháng virus điều trị COVID-19. Có thuốc điều trị, phủ vắc xin mũi 3, khi chúng ta sẵn sàng thì sẽ thích ứng tốt hơn với COVID-19.

Niềm vui của anh Quảng, một lái xe vận tải khi chuyến hàng chở hàng da giầy chuẩn bị được thông quan và vận chuyển sang Trung Quốc tại cửa Quốc tế khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) - Ảnh: Nguyễn Khánh

Ông Tim Evans

Tổng giám đốc HSBC Việt Nam

Đây là lúc để chúng ta hít một hơi thật sâu và tin rằng tình huống tệ nhất đã nằm lại sau lưng

Chúng tôi nhận định kinh tế Việt Nam có thể lấy lại nhịp tăng trưởng GDP ở mức 6,8% trong năm 2022 chủ yếu nhờ đầu tư FDI mạnh mẽ trở lại tập trung nhiều vào lĩnh vực sản xuất từ đó thúc đẩy xuất khẩu cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các Hiệp định tự do thương mại Việt Nam ký trong vòng hai năm qua bắt đầu mang lại trái ngọt.

Tầng lớp trung lưu tiếp tục mở rộng và cụ thể là tầng lớp giàu ngày một gia tăng sẽ thúc đẩy tiêu dùng của Việt Nam từ đó mang lại thay đổi tích cực trong lĩnh vực tiêu dùng bởi người Việt Nam đã bắt đầu chi tiêu mạnh tay hơn cho giải trí và du lịch.

Nhưng chúng ta sẽ cần theo dõi sát sao một số vấn đề để tránh những tác động tiêu cực có thể xảy ra cho nền kinh tế trong tương lai. Trước áp lực giá xăng dầu tăng, quan điểm hiện tại của chúng tôi là nhu cầu trong nước phục hồi từng bước có thể bù đắp cho giá năng lượng cao, vì vậy lạm phát có thể tăng lên 3,5% trong năm 2022 và vẫn nằm trong ngưỡng cho phép của chính phủ.

Tuy nhiên, yếu tố bất ổn nhất vẫn chính là COVID-19 mặc dù quan điểm cá nhân của tôi là trong tương lai, bất kỳ đợt bùng dịch nào cũng cần được kiểm soát bằng giải pháp hạn chế hoặc giãn cách khoanh vùng, thay vì áp dụng trên diện rộng như nhiều nước đã triển khai trong năm 2021 và để lại hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế.

Năm 2021 đã sắp khép lại, đây là lúc để chúng ta hít một hơi thật sâu và tin rằng tình huống tệ nhất đã nằm lại sau lưng chúng ta, Việt Nam sẽ lấy lại đà tăng trưởng kinh tế vượt bậc của năm 2019. Đồng nghiệp nói với tôi rằng chúng ta sắp sửa đón năm Nhâm Dần và có thể yên tâm phần nào vì linh vật năm sau là loài hổ vốn tự tin, bản lĩnh, dũng cảm và mạnh mẽ. Tất cả những phẩm chất này sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi thách thức trong năm 2022 và trở lại lộ trình phục hồi thực sự.

Công nhân đang sản xuất tại nhà máy Texhong Ngân Long thuộc Khu công nghiệp Hải Yên Thành phố Móng Cái, do kiểm soát tốt dịch bệnh nên các phân xưởng tại đây vẫn hoạt động với công suất tối đa - Ảnh: Nguyễn Khánh

Ông Nguyễn Hồng Diên

Bộ trưởng Bộ Công Thương

Nhiều xu hướng mới giúp doanh nghiệp phải thay đổi, thích ứng

“Sự xuất hiện của biến chủng Omicron vào cuối năm 2021 cho thấy đại dịch Covid-19 có khả năng vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp trong năm 2022. Hai năm qua đã chứng kiến những thay đổi trong cách thức vận hành của nền kinh tế và thị trường toàn cầu, đặt ra nhiều thách thức và cả cơ hội. Đặc biệt khi độ mở của nền kinh tế của chúng ta lớn, 87% giá trị xuất khẩu là hàng hoá công nghiệp, nên ngành công nghiệp, thương mại sẽ chịu tác động không nhỏ từ nền kinh tế toàn cầu.

Tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng do ảnh hưởng bởi dịch bệnh trong thời gian vừa qua đã thúc đẩy quá trình giải toàn cầu hoá (deglobalization) nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài. Xu hướng này sẽ thúc đẩy các nhãn hàng cắt giảm các khâu trung gian để rút ngắn chuỗi cung ứng, là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu kết nối trực tiếp với nhãn hàng mà không phải qua trung gian, đồng thời cũng là thách thức cho chính họ vì phải nâng cao năng lực trên mọi phương diện để có thể làm việc được trực tiếp với nhãn hàng và cạnh tranh khốc liệt hơn.

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên - Ảnh: BCT

Tương lai của chuỗi cung ứng là số hoá và tự vận hành. Đại dịch đã thúc đẩy xu hướng này nhanh hơn với tự động hoá, rô-bốt hoá và chuyển đổi số, giúp mang lại lợi ích vô cùng lớn, đặc biệt là đối với các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày - những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, bởi xu hướng này giúp cho doanh nghiệp duy trì và ổn định sản xuất trong bối cảnh dịch bệnh, đồng thời giúp tăng năng suất và tối ưu hoá nguồn lực; song đây cũng là thách thức không nhỏ bởi sự thiếu thông tin và hiểu biết đúng đắn về chuyển đổi số trong sản xuất, cũng như thiếu nguồn lực để thực hiện.

Việc đơn thuần áp dụng các công nghệ số trong nhà máy không đồng nghĩa với việc sẽ hình thành lên chuỗi cung ứng số và tự vận hành, nó đòi hỏi có sự kết nối xuyên suốt mọi hoạt động diễn ra bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, từ việc lập kế hoạch cho đến kế hoạch thu mua, hoạt động sản xuất và logistics. Do đó, thay đổi nhận thức của người đứng đầu sẽ là yêu cầu đặt ra trong việc tiếp nhận xu thế mới, hiểu đúng, làm đúng và tận dụng tốt cơ hội từ xu hướng mới.

COVID-19 cũng đã khiến nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng sản xuất hoặc phá sản. Nhưng đây cũng là cơ hội để ngành công nghiệp thanh lọc, giữ lại các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt hơn, giúp phân bổ lại các nguồn lực. Theo đó, nhu cầu mới về nguồn nhân lực và yêu cầu kỹ năng mới đối với người lao động là những vấn đề cấp thiết đang đặt ra, đồng thời là cơ hội để ngành giáo dục, đào tạo và các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nhanh chóng thay đổi, nâng cao chất lượng, tiếp cận với tri thức và công nghệ mới.

Ngoài ra, trong năm 2022, xu hướng phát triển bền vững, năng lượng xanh, và việc thực thi cam kết “net-zero” cũng sẽ trở nên rõ nét hơn. Xu hướng này là kim chỉ nam cho các doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển và kinh doanh trong giai đoạn hậu Covid-19 và cũng đòi hỏi các cơ quan hoạch định chính sách ban hành khung pháp lý và các quy định phù hợp với xu thế mới.

Để tận dụng cơ hội trên, các doanh nghiệp cần đánh giá lại chiến lược kinh doanh và những rủi ro, cũng như khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng; đẩy nhanh quá trình số hoá chuỗi cung ứng để tăng tính minh bạch và khả năng giám sát chuỗi theo thời gian thực, từ đó thúc đẩy hiệu quả và mở ra các nguồn doanh thu mới, tái cấu trúc chuỗi cung ứng để có thể giảm vốn lưu động, tạo sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh để phát triển nhanh và bền vững.

Bất chấp dịch COVID-19 kéo dài, nhiều doanh nghiệp vẫn mở rộng, vươn thị trường xuất khẩu đi các nước. Trong ảnh: tôn Hòa Phát xuất khẩu ngày càng tăng - Ảnh: TRẦN VŨ NGHI

Ông Andrew Jeffries

Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam

Tỷ lệ tiêm chủng ấn tượng sẽ hỗ trợ sự phục hồi của sản xuất và dịch vụ

Trên nền tảng tăng trưởng kinh tế năm 2021, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh tế cho năm 2022 vẫn giữ ở mức 6,5%, với kỳ vọng việc mở rộng phạm vi tiêm vắc xin COVID-19 có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam. Lạm phát năm 2022 khoảng 3,8% do sự biến động khó đoán định của giá cả thế giới và áp lực đến từ việc đồng VND yếu hơn so với đô la Mỹ.

Tỷ lệ tiêm chủng ấn tượng sẽ hỗ trợ sự phục hồi của sản xuất và dịch vụ. Khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu của Việt Nam từ nhiều hiệp định thương mại tự do sẽ tiếp tục hỗ trợ thương mại và đầu tư. Đầu tư công cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy phục hồi kinh tế.

Tuy nhiên, vẫn có những rủi ro thách thức lớn đối với phục hồi kinh tế trong năm 2022. Đại dịch COVID-19 với biến thể mới Omicron có khả năng làm chậm quá trình phục hồi toàn cầu vào năm 2022. Sự biến động của giá cả toàn cầu vốn bất định cùng với sự thắt chặt tiền tệ vào năm 2022 của các nền kinh tế phát triển được dự kiến sẽ gây ra những bất ổn cho tình hình tài chính toàn cầu, ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế của Việt Nam.

Để hỗ trợ quá trình phục hồi và duy trì tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, Việt Nam cần thực hiện các biện pháp chính sách sau:

Cần xác định cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay khởi nguồn từ khủng hoảng y tế, sức khỏe, vì thế giải pháp y tế vẫn đóng vai trò cơ bản và quyết định, trong khi các chính sách kinh tế vĩ mô có vai trò như công cụ bổ sung. Việc tiếp tục tiêm vắc-xin phòng dịch và tiêm nhắc lại vẫn phải coi như biên pháp cực kỳ quan trọng. Bên cạnh đó, chính sách tài khóa sẽ là chính sách trọng tâm, kết hợp hài hòa với chính sách tiền tệ để hỗ trợ quá trình phục hồi.

Những kết quả tích cực của việc củng cố tài khóa và quản lý nợ công hiệu quả của Việt Nam cũng như quản lý chi tiêu công thận trọng trong những năm trước khi đại dịch bùng phát đã tạo đủ dư địa tài khóa cho Việt Nam đáp ứng các nhu cầu mới phát sinh do đại dịch trong ngắn hạn. Việt Nam có thể chấp nhận thâm hụt ngân sách và nợ công ở mức cao hơn trong giai đoạn 2021-2023 để tạo nguồn lực hỗ trợ nền kinh tế. Nhưng trong dài hạn, khi nền kinh tế dần phục hồi và nhu cầu hỗ trợ tài khóa giảm dần đi.

Gói hỗ trợ tài khóa có vai trò quan trọng không chỉ trong giai đoạn bị ảnh hưởng tiêu cực nhất bởi đại dịch, mà còn trong giai đoạn chuyển tiếp sang phục hồi. Điều quan trọng nhất đối với các nhà hoạch định chính sách là phải đặt ra các mục tiêu phù hợp cho từng thời kỳ để quyết định đưa ra gói hỗ trợ có qui mô đủ lớn.

Trong ngắn hạn, các ưu tiên tài khóa cần được đặt ra đối với chi cho y tế, bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương, hỗ trợ hoạt động kinh doanh, ưu tiên hỗ trợ các ngành có tác động lan tỏa tích cực và các doanh nghiệp có khả năng phục hồi nhanh trong thời kỳ đại dịch, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và tiếp tục trợ cấp trực tiếp là rất quan trọng.

Trung và dài hạn, đầu tư công cần tiếp tục là một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng. Theo đó, đầu tư vào cơ sở tầng bền vững sẽ thúc đẩy sự phục hồi sau đại dịch.

Xuất khẩu vẫn là động lực tăng trưởng chính trong năm 2021 - Ảnh: T.M.

Bà Nguyễn Thị Hương

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và đầu tư

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được dự báo sẽ duy trì và có thể mở rộng hơn

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6-6,5% trong năm 2022 được Quốc hội thông qua là khá thách thức trong bối cảnh nước ta chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 kể từ đầu năm 2020 đến nay. Tuy nhiên, theo tôi có thể thực hiện thành công nhờ dựa vào các động lực sau.

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục kế thừa những kết quả đạt được từ việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020, kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản ổn định, tạo tiền đề để điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả.

Các gói chính sách tài chính và thuế khóa trực tiếp và quyết liệt là cơ hội cho các doanh nghiệp, người dân được tiếp cận nhanh chóng ổn định, phục hồi sản xuất.

Cầu nội địa phục hồi và gia tăng dần do nước ta đã đạt tỉ lệ tiêm phòng đầy đủ 2 mũi tương đối, đảm bảo người tiêu dùng có thể tham gia thị trường mua sắm an toàn hơn. Triển vọng về tiêu dùng trong nước được dự báo sẽ sáng sủa hơn, được hỗ trợ bởi sự gia tăng thu nhập, mở rộng việc làm khi người lao động trở lại các nhà máy, khu công nghiệp sau thời gian trở về địa phương tạm lánh dịch bệnh.

Kiểm soát tốt lạm phát trong bối cảnh có một số hàng hóa, nguyên vật liệu tăng giá để không gây áp lực lên hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Những sửa đổi gần đây trong Luật Đầu tư công giúp đẩy nhanh các quy trình, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện để giải ngân vốn nhanh hơn.

Xu hướng phát triển và mở rộng đầu tư vào các ngành dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao sẽ nâng mức đóng góp của ngành y, tế, giáo dục nói riêng và ngành dịch vụ thị trường nói chung trong tăng trưởng toàn nền kinh tế.

Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mở ra khả năng tiếp cận thị trường, kích thích thương mại và đầu tư lớn hơn.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được dự báo sẽ duy trì và có thể mở rộng hơn giai đoạn (2020-2021) khi Việt Nam mở cửa trở lại các đường bay thương mại quốc tế.

Ngành nuôi biển của Việt Nam nhiều tiềm năng nhưng còn nhiều hạn chế - Ảnh: TÙNG ĐINH

TS. Đậu Anh Tuấn

Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Doanh nghiệp Việt Nam đừng quên thị trường nội địa

Năm 2020-2021 đặt cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam những thách thức rất mới và rất khác. Doanh nghiệp không chỉ đối mặt với vấn đề kinh doanh trực tiếp của mình và của ngành, mà đối mặt với những thách thức lớn hơn thách thức toàn cầu. Doanh nghiệp phải sẵn sàng thay đổi những mô hình kinh doanh cũ, không phù hợp, phải thích nghi hơn với sự chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, làm việc từ xa trong thời gian tới.

Trước tác động của những thay đổi trên thế giới, sẽ hình thành nên xu hướng hướng nội nhiều hơn. Việt Nam có quy mô thị trường nội địa lớn, có nhiều tiềm năng nên tôi cho rằng doanh nghiệp Việt Nam đừng quên thị trường nội địa. Đây là thị trường được đánh giá ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, ổn định và tăng trưởng trong khu vực, đặc biệt là người tiêu dùng có phân khúc thu nhập trung bình khá ngày càng tăng lên, tạo dư địa cho thúc đẩy phát triển thị trường nội địa.

Xu hướng chung của thế giới là “xanh hơn” để chung tay bảo vệ môi trường, nên thu hút đầu tư, vốn tín dụng, môi trường đầu tư không chỉ là thuận lợi, dễ dàng, nhanh chóng mà cũng phải xanh hơn. Gắn với đó, môi trường kinh doanh, hoạt động kinh doanh cũng phải nhân văn và vì con người hơn khi mà trong bối cảnh dịch bệnh, mối quan tâm tới con người, sức khỏe, tâm lý nhiều hơn, nên các sản phẩm chăm sóc y tế, sức khỏe và công nghệ sẽ ngày càng cao hơn.

Xếp dỡ hàng hóa tại cảng Cát Lái (TP Thủ Đức, TP.HCM) - Ảnh: TỰ TRUNG

GS. Hoàng Văn Cường

Phó hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế quốc dân, đại biểu Quốc hội khóa XV

Việt Nam đang thích ứng với xuất khẩu khá tốt

Việt Nam đang thích ứng với xuất khẩu khá tốt, sản phẩm của Việt Nam vẫn đang tiếp cận và giữ chân được thị trường. Dẫn chứng, năm 2021 mặc dù tăng trưởng GDP có sụt giảm nhưng xuất khẩu vẫn tăng, ta vẫn giữ được thị trường. Đây sẽ là cơ hội năm 2022, thế giới phục hồi và mở cửa nhiều hơn, sức mua tăng lên sẽ là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh sản xuất, hướng ra xuất khẩu, tận dụng hiệu quả cơ hội này.

Thị trường trong nước có tiềm năng lớn, người dân ngày càng ưa chuộng hàng Việt nhiều hơn. Hàng hóa Việt Nam có thể thích ứng và ngày càng được chấp nhận, nên đây cũng là cơ hội để chủ động hơn, trong bối cảnh thị trường thế giới đình trệ thì vẫn có thể sống tốt nhờ giữ vững thị trường nội địa, để doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

Các nhà đầu tư thế giới đang dịch chuyển và Việt Nam cũng là địa chỉ để đón nhận dòng vốn dịch chuyển này. Đặc biệt với định hướng thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, nằm trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thành khâu trong chuỗi, mắt xích cung ứng của nhà đầu tư nước ngoài.

Những lĩnh vực hướng ra thị trường thế giới, những ngành sản xuất, chế biến xuất khẩu sẽ là thế mạnh của Việt Nam, đặc biệt là những ngành mà Việt Nam tự chủ được nguyên liệu, như nông nghiệp. Việc chuyển đổi số của Việt Nam cũng sẽ giúp ta mở ra khả năng tiếp cận với thị trường thế giới, bằng con đường trực tiếp và gián tiếp để sử dụng và đảm nhận dịch vụ từ nước ngoài.

Chính phủ không chỉ dừng lại các chính sách hỗ trợ như giãn, hoãn thuế, mà có cả chính sách kích cầu, tăng thêm nguồn lực cho doanh nghiệp, tăng thêm nguồn cầu cho thị trường, cũng tạo nên cơ hội tốt cho doanh nghiệp phục hồi. Đặc biệt sau dịch phải thích ứng hơn với cuộc cách mạng 4.0 và nền kinh tế số, slà cơ hội để doanh nghiệp đầu tư, phát triển mới, thay đổi, tái cấu trúc, chuyển đổi sang mô hình công nghệ cao, chuyển đổi số.

Qua cuộc chiến chống dịch ta thấy, người dân Việt Nam có ý thức phòng chống dịch rất tốt, tự giác và tuân thủ. Nên dù năm 2022 có thể diễn biến dịch phức tạp, nhưng nếu ta khơi dậy được tinh thần và ý thức người dân, để doanh nghiệp vừa kinh doanh và phòng chống dịch, thì dù dịch có diễn biến phức tạp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được diễn ra.

Gạo được đưa tới cảng Mỹ Thới (An Giang) để đóng container đưa đi xuất khẩu - Ảnh: CHÍ QUỐC

PGS.TS Tô Trung Thành

Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Đại học Kinh tế Quốc dân

Động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế năm 2022 sẽ nằm ở đầu tư công

Thách thức lớn nhất với năm 2022 là kiểm soát dịch COVID-19, đây cũng là điều kiện tiên quyết để có được tăng trưởng kinh tế, nhưng việc kiểm soát dịch bệnh phải mang tinh thần mới. Chúng ta chấp nhận sống chung với COVID-19 nên các phản ứng chính sách kiểm soát dịch bệnh, duy trì sản xuất phải linh hoạt.

Nếu có giải pháp kích thích phù hợp thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 6-6,5% trong năm 2022 hoàn toàn có thể đạt được. Động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế năm 2022 sẽ nằm ở đầu tư công. Năm 2022 cần thúc đẩy mạnh việc giải ngân đầu tư công để bù đắp cho tăng trưởng.

Đối với khu vực tư nhân cần có chính sách hỗ trợ tài khóa, tiền tệ cần đủ mạnh để giúp khu vực này duy trì được sản xuất, đặc biệt cần tập trung hỗ trợ được các doanh nghiệp có khả năng hồi phục tốt. Trong trung và dài hạn phải có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ để khu vực tư nhân hồi phục bởi những năm trước dịch bệnh khu vực này đóng góp rất lớn cho tăng trưởng. Cần xác định đầu tư công chỉ hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn ngắn, còn sự phục hồi khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng quan trọng trong trung và dài hạn.

Hy vọng với chương trình phục hồi kinh tế được triển khai, chính sách kiểm soát dịch bệnh linh hoạt, giải ngân đầu tư công tốt hơn, tỉ lệ phủ vắc xin đủ lớn nền kinh tế sẽ đạt được mức tăng trưởng kinh tế 6-6,5% mà Quốc hội đã đề ra.

Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận