Phóng to |
| Minh họa: Khang Lê |
Thú thật là tôi không quan tâm lắm mỗi khi cha buột miệng nói thế. Đau thì uống thuốc chứ có gì đâu. Chuyện về chỗ đau thành “bịnh hậu” nay cha đã kể hàng chục lần rồi. Rằng ngày đó nhà tôi nghèo lắm, cái nghèo chồng chất bởi cha mẹ mới cưới nhau trong ba năm mà đã sinh liền tù tì hai đứa con. Nghèo… hòa cùng không khí nghèo với mọi người vì đất nước vừa thống nhất lại gặp chiến tranh biên giới. Cha hết buông công việc này thì bắt việc kia hầu có chén cơm bỏ vào miệng ba chiếc “tàu há mồm”. Cơm thôi, không quan trọng cá mắm gì đâu. Chỉ cần gạo nấu cơm, còn rau thì có sẵn ngoài đồng ngoài ruộng. Hai chị em tôi cơm rau cũng lớn lên như bầu như mướp. Nhưng khi bệnh thì không thể không uống thuốc.
Có lần nhỏ em tôi nghẹt mũi đến không thở được. Mấy phen chết ngạt cha tôi đã “mút mũi” cho nó tỉnh, nhưng đàm khò khè trong cổ thì cha không phải là bác sĩ. Nhà không có tiền, con bệnh ngặt, ông muối mặt ra tiệm thuốc tây đầu chợ của bà Ba Lòng xin mua thiếu một chai thuốc nhỏ mũi (chứ không dám mua hẳn thuốc trị ho, khò khè) để nhỏ cho nó bớt nghẹt. Vậy mà bà Ba không bán, chai thuốc đặt vào tay cha tôi rồi mà khi xin thiếu nợ thì bả giật lại với câu thẳng thừng: “Không có tiền mà bày đặt bệnh! Chừng nào có tiền hãy tới mua thuốc nghen!”. Cha tôi bảo, lúc đó ông thấy giá trị con người còn rẻ hơn con gà, con vịt, vì làm cha mà không lo được phần thuốc uống cho con!
Việc làm lúc ấy của cha là đi nhổ mì, phát gò mối, đánh gốc cây… “Tiền công” thường là khoai mì, khoai lang phơi khô hoặc ít gạo. Nhưng cha cũng không dám đi làm xa vì con bé em tôi cứ hay đau ốm, nóng sốt, khò khè. Và rồi nhờ một người bạn tốt nên cha chuyển nghề đi bán nước tương, nước mắm. Cha kể:
- Ấp Chà Là cách nhà mình xa lắm, mấy chục cây số lận. Nhưng đó là nông trường cao su, công nhân có lương ổn định, họ không có thời gian đi chợ nên vô đó bán đồ rất đắt. Nhưng ngày đó không có xe gắn máy như bây giờ. Toàn xe đạp thôi. Đường sá nhỏ hẹp trơn trợt, hai bên đường là rừng cây tạp, là tre gai… Ngày đầu tiên cha đi bán, hết mười lít nước mắm, năm lít nước tương. Dù đi xa thật, đạp xe ê cả mông, hai chân muốn rụng vì sau lưng chở gần năm mươi lít. Không có quán cà phê như bây giờ đâu con. Khát thì vô nhà ai đó xin nước uống thôi. Tiền lời ngày “xuất hành” đủ mua hai lít gạo. Cha mừng muốn khóc, thấy cuộc sống mình gắn với nghề bán nước tương chắc sẽ ấm no. Nhưng rồi một tai nạn sau đêm mưa nọ đã khiến cha bỏ nghề. Đêm ấy mưa lớn lắm, cha về không kịp vì đường xa. Một mình lầm lũi trong cơn mưa đẩy xe lách qua từng vũng nước, từng đoạn đường lầy, trân mình chịu cái lạnh thấu xương đang quất ràn rạt vào cơ thể phong phanh manh áo mỏng. Nhưng phải cố bảo vệ chiếc xe cho đừng ngã đổ. Nếu ngã sẽ bung nắp bình đựng nước tương, nước mắm, mất vốn. Lại nhớ vợ con ở nhà với căn nhà dột trước trống sau. Rồi mẹ con có kịp che chắn không? Em con nghe tiếng sấm sẽ khóc vì sợ hãi… Cha cố đạp miết, đạp miết… trong cơn mưa và “uỳnh” một tiếng. Cha không biết gì nữa cả. Tỉnh dậy đã thấy mình nằm trong một căn nhà xa lạ, quần áo không còn ướt nhưng một chân đã không còn cảm giác gì. Chủ nhà kể, sau tiếng sấm rền khá lớn ấy, mấy cái cây trước nhà họ ngã đổ ập lên mái nhà. Nước mưa tuồn vào ráo riết. Họ phải đội mưa dọn cây và phát hiện cha nằm ngoài đường trước cửa nhà, một cành cây đang đè lên chân cha. Mùi nước tương, nước mắm hòa trong nước mưa nồng nặc. Họ mang cha vào nhà chờ tỉnh. Sau đó họ còn đưa cha về, cho ít tiền đi bác sĩ. Cái đầu gối đã bị nứt xương bánh chè, nhưng cha không có tiền để uống thuốc theo yêu cầu của bác sĩ. Chậc, “trời sanh trời lo” mà. Lâu dần rồi nó cũng hết, cha không bị đi cà nhắc, chỉ có điều không thể làm việc trong tư thế quỳ hay đạp xe chở nặng.
Tôi hỏi:
- Rồi sau đó cha sống bằng nghề gì ạ?
- Nghề thợ hồ của cha sau mấy năm “xếp xó” giờ bỗng dưng ùn ùn khách gọi vì cuộc sống đã khá lên. Cha không những làm thợ mà còn làm “cai” cả nhóm hai, ba chục thợ. Như vậy cũng đỡ cho cái chân phải leo lên leo xuống. Hai mươi mấy năm trôi một cái vèo, cứ tưởng nó hết hẳn rồi, ai ngờ dạo này... Cha hít hà.
Thật vậy, lâu nay tôi không hề nghe cha kêu chân đau. Có thể vì cha say việc quá, quên đau. Hay “thằng” đau ngán sức lực điền của cha nên trốn kín không dám thò đầu ra hoạnh họe. Chị em tôi những năm đứa. Lao động vừa sức, thu nhập vừa đủ chứ không quá nhọc nhằn như cha ngày nào. Cha bảo thế là cha mãn nguyện. Ở đời cần nhất là lương thiện, rồi cần nhì là đủ sống. Có thiếu hụt tiền bạc chút chút cũng chèo chống được. Còn thiếu lương thiện thì không lấy gì bù đắp được. Nhất là tôi, làm báo đi nhiều nơi, cha bảo, đó là điều kiện làm việc thiện. Mình không có tiền nhưng một câu, một chữ, một bài báo giúp người ta thay đổi cuộc sống tốt đẹp hơn, ấy là việc thiện.
Trong câu chuyện cha kể lâu nay, tôi cứ ngỡ ấp Chà Là thơ mộng lắm. Hai bên đường đầy cây xanh, nhà nhà không gói gọn trong vuông thép B40 như ở phố, đường quê ngoằn ngoèo nhỏ hẹp vừa hai làn xe tránh nhau chứ không thênh thang để mạnh ai nấy rú ga lạng lách như đường phố. Và nhất là người dân ở đó sẽ tốt bụng không ngờ.
Nhưng…
Ấp Chà Là bây giờ thênh thang đường đất đỏ, hun hút đi như đến tận chân trời. Cao su vẫn xanh như mấy mươi năm về trước nhưng Chà Là không vắng vẻ như câu chuyện kể của cha tôi. Những ngôi nhà khang trang vuông thành sắc cạnh trong lớp lưới rào. Bên hông nhà dù còn vài mét thôi cũng được trồng cây cao su, lêu nghêu theo chiều gió. Hôm nay tôi về Chà Là để thực thi nhiệm vụ theo lời nhờ của chị chủ tịch Hội phụ nữ xã. Một đứa bé con của hội viên chị bị tứ chứng Fallot, nếu mổ sớm thì cơ hội sống sót của bé cao hơn.
Tôi không thiện cảm với Chà Là vì đường xa hơn tưởng tượng. Xăng bán mắc hơn những chục ngàn và đặc biệt là chị chủ tịch Hội phụ nữ xã rất “dân chủ”: xe ai đổ xăng nấy trả tiền dù xe ấy đang chở chị. Vụ đổ xăng tôi chưa hết ấm ức đã bị ngã “xoạch” vì con đường chưa ủi xong. Lổn nhổn đá và đất đỏ sau một đêm mưa thì khách lạ té ngã là hợp lý rồi. Hình như cái chân tôi đau, đau ngay vị trí mà cha tôi đau hai mươi mấy năm về trước. Tôi muốn quay về khi việc chưa hoàn thành…
Ngôi nhà thấp mái tôn hầm hập, người cha vắng nhà. Người mẹ đi trút mủ thuê đang tất tả về đón khách. Gương mặt chị ánh lên vẻ nghèo khó bởi nước da xanh và bộ quần áo trên người giãn hết cỡ. Hai bảy tuổi mà đứa con lớn đã học lớp 4. Thằng bé nhỏ tuổi lên ba thấy khách đến liền chui xuống gầm giường trốn. Chị ẵm lên. Nó quắt queo, đèo đẹt và dơ bẩn như con mèo hen. Chị bảo, cũng không biết nó “bệnh ngặt” thế, lúc hơn tháng tuổi hay khò khè nghẹt mũi, có lúc ngất đi thì mua thuốc tan đàm giãn phế quản cho uống, bớt bớt rồi hết tiền thì… thôi. Nhà xa quá cũng chưa ra xã đăng ký thẻ bảo hiểm y tế cho con được. May lần nọ có đoàn bác sĩ thiện nguyện về Chà Là khám bệnh cho người già. Chị đánh liều mang con tới xin khám. Vị bác sĩ nọ sau khi khám sơ qua đã cho chị tờ danh thiếp bảo chị bồng con gấp về Sài Gòn, mọi thứ bà ấy sẽ lo. Khi biết chắc bệnh rồi chị lại không biết đào đâu ra trăm triệu để cứu mạng con. Nội ngoại đôi bên đều nghèo…
Tôi xuýt xoa vì cái chân đau. Nghe câu chuyện lòng thương cảm ngập tràn nhưng không khỏi trách kẻ làm cha làm mẹ ấy quá vô tình. Cả chiếc thẻ bảo hiểm y tế cho con còn không lo được thì còn gì để lo nữa? Nhà bên chợt khúc khắc tiếng ho người già. Chị bảo, đó là bà mẹ chồng tuổi bát tuần viêm phế quản mãn tính, mỗi lúc trở trời là cơn bệnh hành hạ nên chị ít đi đâu xa được.
Ngoài sân có tiếng xe. Một con “xế điếc” và người đàn ông quần ống thấp ống cao đi vào. Đó là cha đứa bé. Anh có nét khắc khổ còn hơn cả vợ. Bốn mươi tuổi thôi mà tóc đã “muối nhiều hơn tiêu”. Anh mừng đến nói lắp khi biết lý do cuộc viếng thăm. Rồi khi thấy chân tôi bê bết bùn đỏ, anh đã chắt hết bình rượu thuốc biếu tôi mang về bóp chân. Đây là “rượu nghề võ” của ông nội anh để lại. Tôi không muốn nhận, chân đau mua thuốc uống sẽ hết thôi mà. Anh chậm rãi đáp: “Rượu thuốc hết thì mua rượu khác đổ vô. Chỉ lo nhân nghĩa hết không làm sao kiếm được”. Sao anh có kiểu nói na ná cha tôi thế nhỉ?
Loại rượu nghề võ ấy thấy vậy mà hiệu nghiệm không ngờ. Không những chân tôi hết đau mà “bịnh hậu” hai mươi mấy năm của cha tôi sau chục lần xoa bóp cũng đã bớt rất nhiều. Ông gật gù: “Người dân Chà Là bây giờ vẫn tốt như hai mươi mấy năm về trước hé!”.
Áo Trắng số 11 ra ngày 15/06/2013 hiện đã có mặt tại các sạp báo. Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này. |


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận