Trên 260 hiện vật được trưng bày là sở hữu của các bảo tàng và các nhà sưu tập tư nhân đã làm nên một bức tranh gốm Việt rất phong phú và nhiều màu sắc. Người xem không chỉ được thưởng ngoạn cổ vật mà qua đó hiểu hơn về văn hóa dân tộc được gửi gắm qua bàn tay và tâm hồn của những người thợ tài hoa.
Phóng to |
| Ống cắm cuốn thư - gốm Châu Ổ |
Tính từ thế kỷ thứ X - bước ngoặt lịch sử quan trọng mở ra thời kỳ độc lập sau một thời gian dài chịu đô hộ của phong kiến phương Bắc, nghề gốm là một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời của dân tộc Việt. Với việc định đô ở Đại La và đổi tên thành Thăng Long vào năm 1010, nhà Lý đã mở ra một giai đoạn phát triển thịnh vượng cho đất nước cả về kinh tế lẫn văn hóa.
Từ đấy, gốm Việt song hành cùng với lịch sử dân tộc đã tạo nên một sắc thái, truyền thống riêng biệt. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật và nghệ thuật, sự hòa quyện tuyệt vời giữa đất, nước và lửa cùng tâm hồn người Việt đã tạo nên những tuyệt phẩm gốm mang dấu ấn văn hóa Việt một cách sâu sắc.
Gốm thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV): Đỉnh cao của gốm Việt
Phóng to |
| Đèn hình chim vẹt và ấm hình cá, men màu thời Lý |
Gần bốn thế kỷ, từ thời Lý sang thời Trần, nghề gốm đạt được những thành tựu rực rỡ trên mọi phương diện. Từ quy mô sản xuất, chủng loại, chất liệu… đều được mở rộng. Kỹ thuật tạo hoa văn thời kỳ này có ba loại cơ bản là đắp nổi, khắc chìm và in khuôn trong. Cũng có nhiều loại không trang trí hoa văn, nhưng vẻ đẹp của hình dáng, màu men cũng không kém phần đặc sắc.
Những trung tâm sản xuất gốm nổi tiếng thịnh vượng vào thời kỳ này và còn lưu truyền đến tận ngày nay như Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Nam Định), Chum Thanh (Thanh Hóa)...
Thời Lý nổi bật với kỹ thuật tạo gốm bằng men ngọc, men hoa nâu. Các loại vật dụng thường thấy như đĩa men lục bên trong có họa tiết hoa nổi là dây cúc, các loại tô men ngọc, ấm trà hình quả dưa, bình tỳ bà… thường được tạo hình thanh thoát, trang nhã, nhưng lại rất cầu kỳ, tinh mỹ trong từng đường nét, hoa văn trang trí.
Phóng to |
| Ang hoa nâu hình cá thời Trần |
Ngược lại, gốm thời Trần có nét thô và mộc, đa dạng hơn về họa tiết với loại gốm in khuôn trong. Thời kỳ này thấy rõ ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo lên các tác phẩm gốm với hoa văn trang trí phổ biến là hoa sen, cũng có hoa cúc hay hình rồng phượng, tiên nữ...
Gốm men ngọc, gốm hoa nâu của thời Lý vẫn tiếp tục phát triển vào thời Trần, nhưng cũng có sự ra đời của dòng gốm mới men xanh trắng với các sản phẩm tiêu biểu như âu, chậu, thạp, ang hoa nâu, tước, ấm men ngọc, thố men trắng… Gốm thời Trần không chỉ được sử dụng trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước Malaysia, Indonesia, Philippines…
Gốm thời Lê - Mạc, Lê trung hưng (thế kỷ XV - XVIII): Ra đời dòng gốm men hoa lam đặc trưng
Phóng to |
| Lư hương men trắng thời Lê - Mạc |
Đây là thời kỳ sau cuộc chiến chống quân Minh thắng lợi, đất nước được hồi phục và phát triển. Từ những làng nghề đã có từ trước như Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, nghề gốm cũng hình thành thêm nhiều trung tâm sản xuất có tính chất chuyên nghiệp để đáp ứng cho việc xuất khẩu như Chu Đậu, Hợp Lễ, Cậy (Hải Dương).
Thời kỳ này có sự ra đời của dòng gốm men trắng vẽ lam (thường được gọi là gốm men hoa lam) rất đặc trưng với các loại bình tỳ bà, nậm, vò, bát, đĩa… có dáng và chân đế cao, dưới trôn tô màu nâu đỏ, hoa văn trang trí hình lá chuối, cánh sen, chim, cá… Gốm thời này được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới, tận Trung cận Đông, châu Phi, châu Âu...
Giai đoạn này ngoài dòng gốm men trắng thì đồ sành rất phát triển tại trung tâm Hương Canh (Vĩnh Phúc) nổi tiếng với các loại chum, vại, Phù Lãng với loại sành tráng men da lươn.
Phóng to |
| Lư hương men nâu - gốm Phù Lãng thế kỷ XVII |
Đến cuối thế kỷ XVI đầu XVII, dòng gốm men nâu, men lam, men trắng vẫn tiếp tục phát triển với các loại sản phẩm ché, hũ, ấm, chậu, bát, đĩa… và gốm kiến trúc. Tuy nhiên, có xuất hiện thêm loại gốm men lam, hoa văn đắp nổi kết hợp vẽ lam mà những sản phẩm chủ yếu là đồ thờ cúng và trang trí như chân đèn, lư hương, bát nhang… Thời kỳ này lần đầu tiên trên gốm Việt có ghi tên người và lò gốm sản xuất.
Phải kể đến sự ra đời của dòng gốm miền Trung, là sự tiếp nối gốm miền Bắc và gốm Gò Sành (thế kỷ XIII - XVI) tạo nên sự xuyên suốt trong dòng chảy gốm Việt. Đó là dòng đồ sành mộc mạc, thô ráp của gốm Phước Tích (Thừa Thiên - Huế), Quảng Đức (Quảng Ngãi), là đồ gốm xốp men da lươn, xanh vàng, trang trí nổi của gốm Châu Ổ (Phú Yên) mà hiện vật tiêu biểu các loại ống cắm, bình đựng nước men nhiều màu, các loại bình vôi, bình rượu…
Gốm thời Nguyễn (thế kỷ XIX - XX): Gốm của vùng đất mới miền Nam
Phóng to |
| Bình hoa gốm Bát Tràng thế kỷ XIX |
Nghề gốm giai đoạn này tuy không còn cực thịnh nhưng vẫn được duy trì và các làng nghề vẫn giữ được cốt cách riêng: Gốm Bát Tràng nổi tiếng với vẻ đẹp nhuần nhị, tinh tế của gốm xốp men trắng ngà, men rạn vẽ màu; gốm Thổ Hà khỏe khoắn, phá cách với những sản phẩm không men, màu nâu sẫm, đanh chắc; gốm Phù Lãng cầu kỳ, sâu lắng với màu men da lươn, hoa văn trang trí nổi.
Có thể thấy sản phẩm của những dòng gốm dân dụng này rất phong phú về chủng loại và kiểu dáng: bình hoa, chóe, âu, lư hương, chân đèn, tượng gốm, chum vại, chậu cảnh…
Ở miền Nam - vùng đất mới có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng ra đời ba trung tâm gốm lớn là Sài Gòn, Lái Thiêu (Bình Dương) và Biên Hòa (Đồng Nai).
Phóng to |
| Chân đèn hoa sen, men nhiều màu của gốm Lái Thiêu |
Phóng to |
| Ống cắm tùng mai - gốm Sài Gòn |
Nét đặc trưng và khác biệt của gốm Sài Gòn so với hai dòng gốm phụ cận Lái Thiêu và Biên Hòa là sự phát triển của dòng gốm trang trí, kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo. Những sản phẩm như bình, chậu, đôn, tượng nhật nguyệt, tứ linh, các quần thể phù điêu, tiểu tượng… hiện còn lưu giữ tại các đình, chùa, miếu ở TP.HCM là minh chứng cho điều này. Các đề tài cổ chiếm đa phần trên các sản phẩm của gốm Sài Gòn, bên cạnh đó các đề tài có tính dân gian cũng được đề cập. Đây là dòng gốm men nhiều màu đầu tiên của vùng đất Nam bộ.
Phóng to |
| Thố có nắp men nhiều màu - gốm Biên Hòa |
Gốm Biên Hòa là sự kết hợp của hai dòng gốm Việt - Hoa với những di tích như rạch Lò Gốm, bến Miểng Sành (Cù Lao Phố - Biên Hòa). Những sản phẩm như nồi, niêu, lò, bình vôi… (bằng đất nung), lu, hũ, khạp (bằng sành) đều được sản xuất để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người.
Những yếu tố như kỹ thuật khắc chìm và phối men nhiều màu, sự kết hợp giữa trang trí và hội họa, sự tiếp thu kiểu dáng truyền thống cùng với các loại men độc đáo như men cobalt, xanh đồng, da lươn… vừa giản dị, vừa trầm lắng đã tạo nên sản phẩm gốm thuần chất phương Đông.
Vượt qua không gian và thời gian, gốm Việt ngày nay có mặt tại nhiều bảo tàng lớn trên thế giới, làm phong phú thêm di sản văn hóa Việt Nam và cả thế giới. Điều mà người Việt nào cũng tự hào và góp phần gìn giữ, bảo tồn di sản của cha ông.
Bà Kerry - chuyên gia nghiên cứu về mỹ thuật, văn hóa phi vật thể Việt Nam có mặt tại triển lãm cho chúng tôi biết, điều thú vị nhất đối với bà là phát hiện về gốm Châu Ổ (Phú Yên), vì trước đây ít được nhắc đến so với các tên tuổi gốm nổi tiếng của Việt Nam. Bà nói: “Đây là một chuyên đề rất đáng xem, rất hấp dẫn và bổ ích không chỉ về gốm mà còn là văn hóa Việt Nam”.









Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận