Phóng to |
|
Tại TP.HCM, thầy Trần Phò (Trường THPT Lê Quý Đôn) - người đã có 39 năm đứng trên bục giảng - được đánh giá là một trong những giáo viên giỏi, luôn truyền được cảm hứng học văn cho HS - Ảnh: Như Hùng |
Những lúc ấy tôi lại nhớ về những giờ học văn ở trường trung học, nhớ về những người thầy dạy Việt văn của tôi...
Bốn mươi năm đã qua, vậy mà đến giờ tôi vẫn nhớ như in giờ học Việt văn hôm ấy.
Hôm ấy, thầy của chúng tôi, thầy Phạm Huệ (thầy là giáo sư trung học đệ nhị cấp - tức cấp III, dạy triết học lớp đệ nhất - tức lớp 12, nhưng dạy môn Việt văn ở đệ nhất cấp - cấp II) vào lớp với xấp bài trên tay: thầy sẽ trả bài luận văn...
Cả lớp dường như ai cũng hồi hộp, chờ đợi, trong khi thầy vẫn cứ từ tốn, đi qua đi lại, miệng mỉm cười, trông như có điều gì tâm đắc lắm. Bỗng thầy dừng lại ngay giữa lớp, nhìn khắp chúng tôi và với cái giọng trầm trầm, nghiêm trang mà rất quen thuộc, thầy nói: “Thầy muốn nói với các em rằng lần này trả bài cho các em, quả thật thầy rất vui, vui vì có hai bài viết khá hay và thầy đều cho 16 điểm...”.
Cả lớp lặng yên. Những cặp mắt khe khẽ nhìn lên xấp bài trên tay thầy. Có lẽ bạn nào cũng thầm hỏi: hai bài của ai? Riêng tôi, tôi không chặn giữ được nỗi lo sợ đến mức dường như tôi phải ép người lại, run run...
Không để chúng tôi chờ đợi lâu, vẫn từ tốn, thầy rút bài luận văn trên cùng đưa lên: “Đây, các em, đây là bài viết của trò Doanh, thầy đọc cho các em nghe...”. Cả lớp lắng nghe, theo dõi cái giọng trầm trầm, diễn cảm theo từng câu, từng chữ của thầy, chúng tôi cảm nhận được bài viết của trò Doanh khá hay.
Với yêu cầu phân tích bài Lụt, hỏi thăm bạn của Nguyễn Khuyến: “Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu/ Lụt lội năm nay bác ở đâu?/ Mấy ổ lợn con rày lớn bé?/ Vài gian nếp cái ngập nông sâu?...”, Doanh đã làm bật lên tình bạn chân chất, mộc mạc mà hết sức tha thiết, cảm động giữa hai người...
Giảng giải cái hay của bài viết của trò Doanh xong, thầy đặt xấp bài xuống và từ từ lấy ra bài thứ hai, bài “đồng hạng” 16 điểm (thang điểm 20) - con điểm rất hiếm khi thầy tôi “ban” cho học trò của mình... Cả lớp lại im phăng phắc.
Phần tôi, tôi hồi hộp quá, dẫu bài văn của tôi thường bao giờ cũng cao nhất nhì lớp, nhưng lần này, sau khi nghe thầy phân tích bài viết của trò Doanh, tôi biết bài mình không thể có điểm cao, thậm chí sẽ có điểm kém, rất kém nữa là khác. Không kém sao được khi nội dung phân tích, ý tứ, lập luận, cái nhìn... trong bài viết của tôi hoàn toàn trái ngược với bài của trò Doanh...
Năm ấy chúng tôi học đệ ngũ (lớp 8) tại Trường trung học Trần Quốc Tuấn, trường công lập đệ nhất và đệ nhị cấp (cấp II và III) duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi. Trước đó, tôi không còn nhớ rõ bắt đầu từ năm đệ thất (lớp 6) hay đệ lục (lớp 7), chúng tôi đã đọc, đã mê, đã thuộc khá nhiều những vần thơ của dòng văn học lãng mạn thời kỳ 1930-1945 (thơ mới).
Vì vậy, lúc ấy, với tôi, thơ phải là cái gì thật thanh thoát, là thấm đẫm màu sắc, hương thơm của thiên nhiên, là nồng nàn tình cảm, là “Trăng nằm sóng soải trên cành liễu...”, là “Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông...”, là “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu?/ Ai đem thu đến gợi thêm sầu...”... Cho nên khi “đụng” phải bài Lụt, hỏi thăm bạn của Nguyễn Khuyến, với “Mấy ổ lợn con rày lớn bé...”, với “Em cũng chẳng no mà chẳng đói...” quả thật tôi không chịu nổi.
Và tôi đã viết tất cả những suy nghĩ thật của mình, nào là đó không phải là thơ, bởi vì thơ không phải là chỗ để cho heo, cho lợn bước vào; nào là đó không phải là thơ, bởi vì ngôn ngữ của thơ phải là thứ ngôn ngữ trau chuốt, lộng lẫy, kiêu sa, chứ ai đời lại như một lời nói tầm thường của một người dân quê vậy... Vậy đó, tôi viết hoàn toàn trái ngược với Doanh, thế thì làm sao mà không bị điểm thấp?
Nhưng không phải như vậy. Thầy dạy Việt văn của chúng tôi từ từ đưa bài viết lên và vẫn với cái giọng trầm trầm, thầy... “công bố”: “Bài viết thứ hai, 16 điểm, là bài của trò Nguyên...”. Tôi bất ngờ đến mức cứ ngỡ mình nghe nhầm. Tôi sung sướng cảm nhận được ánh mắt ấm áp, thương yêu của thầy khi thầy nhìn tôi.
Thầy đọc và giải thích với cả lớp rằng bài của tôi phân tích không đúng nhưng thầy rất thích vì có những suy nghĩ độc lập, không theo khuôn mẫu; rằng bài viết diễn đạt được những ý nghĩ thực, tình cảm thực trong lòng mình... “Văn, trước hết, là nói những điều mình cảm nhận, suy nghĩ, rung động thực, các em ạ...” - thầy nói.
Giờ học Việt văn của chúng tôi hôm ấy không dừng ở điểm số. Điểm số rồi cũng qua đi. Từ những bài luận văn của chúng tôi, thầy đã đưa chúng tôi đến với một nhà thơ lớn, nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, nhà thơ của dân tình...
Riêng tôi, nhờ thầy tôi đã vứt bỏ được hết những suy nghĩ, cảm nhận sai lầm để rồi trong những giờ học Việt văn sau đó, tôi đã cùng các bạn trong lớp không cầm được nước mắt khi nghe thầy giảng bài Tặng nhục (cho thịt) của Nguyễn Khuyến: “Nhân đám ma, mọi người ăn uống chán đầy/Khi trở về, đem cho ta thịt./...Không ăn thì sẽ đói/ Ăn vào thì lại nhục / Không ăn, người sẽ gầy/ Ăn vào người hóa tục...”.
Cứ thế, niềm hạnh phúc, nguồn cảm hứng học Việt văn mà thầy Huệ và sau đó là thầy Trí, thầy Duật, thầy Bằng... đã mang lại vẫn còn đọng mãi trong chúng tôi... Chính các thầy đã mở những cánh cửa và đưa chúng tôi đến những chân trời đầy sắc màu của văn chương chữ nghĩa...
*
Năm tháng qua, dần dần tôi không có điều kiện theo dõi việc học văn dạy văn nữa. Thỉnh thoảng tôi có nghe những lời than thở của những đồng nghiệp xưa, của các em học sinh về chương trình nặng nề, về chuyện văn mẫu, về việc dò bài, về chuyện các em phải học thuộc lòng mịt mùng tất cả...
Bỗng dưng trong tôi trào dâng một niềm hạnh phúc - niềm hạnh phúc mà ngày xưa, 40 năm trước, chúng tôi đã từng có. Đó là những giờ học văn, những giờ được gặp thầy dạy văn... Và tôi ao ước giá mà tôi đưa được các em về những giờ học văn ngày ấy. Nhưng tôi lại giật mình: sao lại ao ước cho các em đi lùi như thế, không được, các em phải vượt lên, vượt lên trước chúng tôi ngày ấy hàng trăm năm mới phải...

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận