Trở về Tuổi Trẻ Online phiên bản cũ Tại đâyGóp ý Tuổi Trẻ Online phiên bản mới Tại đây

Người Đàng Hạ hồi sinh

09/03/2004 06:00 GMT+7

TT - Không ai nhớ rõ nguồn gốc dân tộc mình, họ chỉ biết, lâu lắm rồi cộng đồng tròm trèm 30 người của họ túm tụm sống trên bãi biển Sơn Đừng (có người gọi là Xuân Đừng - xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa). Qua nhiều đời họ sống bằng cách chặt cây rừng ủ than, đói thì vào rừng đào trái trú, trái mắm mà ăn... Rồi những anh bộ đội đến với họ..

9tz5RcUA.jpgPhóng to
Chiều, ghe đánh cá người Đàng Hạ về bãi Sơn Đừng
TT - Không ai nhớ rõ nguồn gốc dân tộc mình, họ chỉ biết, lâu lắm rồi cộng đồng tròm trèm 30 người của họ túm tụm sống trên bãi biển Sơn Đừng (có người gọi là Xuân Đừng - xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa). Qua nhiều đời họ sống bằng cách chặt cây rừng ủ than, đói thì vào rừng đào trái trú, trái mắm mà ăn... Rồi những anh bộ đội đến với họ..

Ngày ấy trên bán đảo “cùi”

“Sơn Đừng là Sơn Đừng cùiĐi chợ bằng gùi, đầu đội nón mo”

Câu ca dao - “di sản văn hóa” hiếm hoi của người Sơn Đừng - đã diễn đạt cái nghèo quắt queo nơi đây. Bán đảo Sơn Đừng tựa lưng vào những đồi cát không đường đi, mặt nhìn ra cụm đảo Hòn Gốm. Vài năm trước, muốn đến Sơn Đừng, từ đất liền phải đi nhờ thuyền đánh cá, cả đi và về phải mất hai ngày. Nếu đi tàu cắt ngang vịnh Vân Phong cũng mất ba giờ.

Ở đấy, một dân tộc với bảy chóp nhà sống biệt lập, chẳng ai biết lúc nào, từ đâu trôi dạt tới. Chỉ nghe người ta gọi họ là người “Đàng Hạ” (có nghĩa là người ở dưới thấp). Họ không còn nhớ chữ viết và tiếng nói. Đó là những con người có nước da đen bóng, tóc xoăn, trán ngắn, môi dày và đôi mắt màu đồng thau. Họ sống như người nguyên thủy và xung quanh họ là những huyền thoại...

Nhà nghiên cứu Trần Việt Kỉnh - hội viên Hội Văn nghệ dân gian VN, người đầu tiên nghiên cứu về dân tộc này từ 1992 - kể lại: khoảng bốn năm trước, nơi đây cũng chỉ có 36 người sống trong bảy nóc nhà. Gọi là nhà nhưng thật ra đó là những chóp lều không nền, hai mái úp đan bằng lá cây dựng sát chân sóng.

Ở biển, song người Đàng Hạ không biết làm lưới ra khơi đánh cá. Hỏi: “Lấy gì để sống?” - họ chỉ về những đảo rừng núi đá Khải Lương, Ninh Đảo trước mặt. Sau này, họ chặt cây ủ than rồi mang ra chợ huyện đổi gạo, quần áo. Nhiều nhà hai vợ chồng chỉ có một cái quần, hễ chồng đi thì vợ ở nhà quấn lá cây. Họ không có phong tục làm đám cưới, đám tang. Vào đúng đêm trừ tịch (30 tết), trai gái yêu nhau dắt về nhà ở chung. Người chết thì cuốn trong manh chiếu rồi đem chôn vào cát.

Có một bí mật về dòng nước ngọt trên bãi biển mà đến nay vẫn chưa ai giải mã được. Giếng đào trên đất này không dùng được, thế nhưng trên bãi Sơn Đừng, chỉ cần đào hố cát nhỏ cách mé nước chừng năm sáu gang tay tức thì nước ngọt dần dần lộ ra.

Hiện tượng này được lý giải bằng một huyền thoại: xưa vua Gia Long bị quân Tây Sơn truy đuổi chạy lạc vào vùng đất này. Khát, ông cho quân lính đào cát ở mép biển. Kỳ lạ thay, dòng nước ngọt hiện ra qua lớp cát trắng mịn...

Nhớ ơn trời đất và dân Sơn Đừng đã cưu mang, vua ban cho con trai Sơn Đừng họ Đinh, con gái họ Trần. Hiện nay trên đảo vẫn còn đền thờ vua Gia Long, riêng sắc phong có dấu hai bàn tay vua đã bị nước cuốn trôi trong một cơn bão lớn (?!).

Không chỉ có huyền thoại, đảo Sơn Đừng nghèo cùi cụt, nghèo xơ xác cùng những con người chưa bao giờ biết một chữ cắn đôi ấy lại là nơi nuôi giấu cán bộ trong thời chống Mỹ. Toàn xóm có bảy gia đình thì đến ba gia đình liệt sĩ với bảy người hi sinh. Ông Đinh Năm - 70 tuổi, hiện là trưởng xóm Sơn Đừng và là người cao niên nhất ở đây - cũng từng là một dân “leo núi” (người hoạt động cách mạng).

Sơn Đừng thức dậy!

0lkDBtNu.jpgPhóng to
Bé Út đã biết đọc chữ rồi
Người Đàng Hạ hôm nay đã hòa nhập cuộc sống cộng đồng VN. Con số 100% thất học, 100% gặp cảnh đói thường xuyên, phá rừng đốt than... là cảnh của bốn, năm năm về trước. Từ năm 2000, khi lực lượng bộ đội biên phòng - đồn 358 nhận đỡ đầu thì người Đàng Hạ xóm Sơn Đừng được học cái chữ để đọc sách, biết cái kỹ thuật nuôi tôm hùm, có thuyền ra khơi đánh cá và biết trồng rừng…

Đến Sơn Đừng những ngày này, từ xa chúng tôi đã nhận ra những ngôi nhà xây quét vôi trắng thấp thoáng sau hàng dừa xanh ngút. “Bộ đội biên phòng xây đấy, tất cả là bảy căn” - thiếu tá Trần Tùng Thanh, phó đồn trưởng chính trị đồn biên phòng 358, cho biết.

Khi đó, ghe đánh cá của ông Bảy cũng vừa kịp về cập bến. Ông già “độc nhãn” xấp xỉ sáu mươi tuổi ấy giơ tay ngang trán chào theo kiểu nhà binh: “Chào cán bộ!”. Rồi ông lăng xăng mời chúng tôi xắn quần lội vào bãi cát trước cửa nhà ông “chơi”.

“Ông có ba đứa con được bộ đội dạy học, mấy tháng rồi thầy mãn hạn nghĩa vụ về quê, các em phải nghỉ học. đồn chưa tìm được người mới nên dân làng trông…” - anh Thanh giải thích chưa hết câu thì ông Bảy đã hỏi dồn: “Sao lâu hung không thấy cán bộ xuống dạy học, để mấy cháu quên chữ quên nghĩa hết trơn. Sự thiệt ra cũng mong cho mấy đứa tiến lên đôi mức nữa. Tui định bổ sung thêm”. Ý ông Bảy muốn đăng ký cho mấy đứa nữa đi học.

Tôi đã được nghe kể về nỗi khát khao được biết chữ của người dân Sơn Đừng. Có những trẻ mới năm tuổi cũng được phụ huynh năn nỉ gửi vào lớp một. Vậy nên giờ lên lớp, ngoài tập giáo án thầy giáo còn “thủ” một bịch đồ chơi. Thế mới gọi là “thầy giáo mang quân hàm xanh”.

Những thầy giáo mang quân hàm này đi vận động từng cuốn sách cũ, gò lưng làm từng món đồ chơi. Thầy cùng ăn, cùng ở, cùng làm, góp gạo thổi cơm chung và những ngày đầu còn nhịn đói chung với gia đình phụ huynh. Từ hơn ba năm nay, 24/39 người Đàng Hạ được dạy biết đọc biết viết.

Dạy chữ cho cái xóm mà từ đời cha ông chưa biết cầm cây bút ra sao đã khó, dạy cho họ biết làm ăn, không ỷ lại vào thiên nhiên càng khó hơn. Các anh tự nguyện góp tiền tạo vốn cho dân. Số tiền có được mua tôm hùm giống, cây điều con. Mỗi hộ được 40 tôm giống và 50 cây điều. Thế nhưng, nuôi và trồng bằng cách nào? Chính các anh bộ đội lại mày mò học kỹ thuật nuôi tôm, trồng điều rồi truyền lại cho dân. Bao đời dân chỉ biết chặt cây rừng, bắt con thú rừng chứ đâu biết trồng, biết nuôi.

Sau một năm rưỡi nuôi tôm, có hộ thu được cả trăm triệu. Các anh bộ đội lại bày dân mua ghe, mua lưới ra khơi. Vậy là câu chuyện về người Đàng Hạ “sợ nước” đã thành chuyện đời xưa khi hiện nay tất cả bảy hộ dân đều có ghe, lưới. Chưa giàu nhưng người Đàng Hạ đã không còn đói lay lắt như xưa. Không còn phải lên rừng chặt cây ủ than, săn bắt con thú nữa.

Chẳng những vậy, có hộ như hộ Đinh Mười còn sắm được cả hai ghe đi lưới. Đinh Mười có năm đứa con, có đứa đã biết theo cha ra biển, vợ làm bánh tráng. Nhà anh được xem là khá giả nhất đảo. Bên cạnh nhà bộ đội xây cho mấy năm về trước, anh còn xây thêm một căn bên cạnh, cũng nhà xây nền cao, trong nhà có tủ kiếng, xalông…

Những ngày này trên đảo, vườn điều của những người Đàng Hạ đang độ ra hoa. ông Bảy dắt chúng tôi ra thăm vườn điều, tôi thật bất ngờ khi thấy bên cạnh những cây điều cao, những cây điều con mới ra ba bốn lá xanh nõn nà.

Thì ra, ông Bảy đã giữ tất cả hạt thu được trong đợt trái bói năm trước và ươm miết trên đồi cát hoang. Điều ấy có lớn lao gì đâu, nhưng đối với Sơn Đừng là cả một sự đổi thay: Sơn Đừng không còn là Sơn Đừng “cùi” với dáng dấp cuộc sống nguyên thủy của người Đàng Hạ khi xưa nữa. Người Đàng Hạ giờ đây đang dựng xây cuộc đời của mình...

YẾN TRINH