Nhà máy “tháo chạy”
Xí nghiệp chế biến khoai mì Lương An Trà có vốn đầu tư ban đầu 48,3 tỉ đồng (trong đó vốn vay ưu đãi 36 tỉ), năng lực thiết kế 30.000 tấn/năm, đưa vào hoạt động năm 1999. Song song đó, An Giang cũng đầu tư hệ thống thủy lợi cho vùng nguyên liệu khoai mì, trong đó riêng khu chữ U rộng 1.513ha là 21,17 tỉ đồng. Đồng thời qui hoạch vùng chuyên sản xuất khoai mì 3.000ha của nhà máy, 1.500ha ở hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn.
Đáng buồn là qua mấy năm hoạt động đã thua lỗ hàng chục tỉ đồng mới nhận ra sai lầm: loại cây này không thích hợp ở đây! Không còn cách nào khác, xí nghiệp đành giải thể từ tháng 10-2003 và hiện đã bán và thanh lý tài sản. Những ngày này, để khỏi bị “dòm ngó và gây xôn xao dư luận”, nhà máy đang thực hiện chính sách “ngoại bất nhập” để tháo dỡ, vận chuyển cơ sở vật chất, trang thiết bị về Công ty Mía đường Tây Ninh! Chúng tôi phải lội băng đồng nước lẻn vào phía sau mới ghi được hình ảnh... tháo chạy âm thầm này.
Vì sao nên nỗi? Chúng tôi được biết trước khi quyết định đầu tư nhà máy cùng vùng nguyên liệu tại đây, dự án đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực, công sức, thời gian của các ngành chức năng với sự tham gia nghiên cứu thẩm định của nhiều nhà khoa học. Và không biết bao nhiêu hi vọng của người dân đã đặt vào đây, trong đó có hàng trăm hộ dân đang làm ăn yên ổn tại vùng kinh tế mới, hàng trăm hộ nơi khác vào khai phá, nhận khoán trồng khoai mì theo tiếng gọi của dự án. Thế mà nay vẫn là cảnh nghèo khổ, lại thêm mắc món nợ mỗi hộ từ vài chục triệu đồng và bị tước mất mảnh đất mình vốn dày công khai phá từ thời vỡ hoang xây dựng khu kinh tế mới.
Và “bài học” đã được thừa nhận: thổ nhưỡng không phù hợp, năng suất khoai mì quá thấp (bình quân 15 tấn so với 45-50 tấn/ha ở nơi khác), hàm lượng tinh bột cũng thấp nên giá thành tinh bột không có khả năng cạnh tranh, lại thêm do thường bị ngập nước vào mùa mưa! Người dân quả quyết: “Hệ thống tưới tiêu, thoát nước hàng chục tỉ đồng với thiết kế xây dựng hoàn toàn không có tác dụng đưa đến tình trạng ngập úng hằng năm”.
Họ kể mỗi khi mưa lớn mà chỉ 3/24 ống của trạm bơm điện hoạt động nên mùa mưa nào cũng bị ngập. Còn mùa khô thì không nước tưới! Anh Nguyễn Ngọc Trường ở ấp Giồng Cát ấm ức: “8ha của tôi năm 2002 thu hoạch chỉ 4 tấn củ bán được trên 700.000 đồng, nhiều hộ ít hơn nữa”.
Ngoài ra, người dân bảo cung cách làm ăn, tổ chức sản xuất của nhà máy còn gây nhiều thiệt hại cho họ. Từ Châu Phú tình nguyện vào đây xây dựng vùng kinh tế mới từ năm 1994, hộ ông Lê Văn Hận khai mở đất hoang trồng lúa đã được mỗi năm hai vụ, năng suất 30 giạ/công/vụ. Thế rồi năm 1998 bị bắt trồng khoai mì, cả đất thổ cư 1.000m2 được cấp cũng bị thu hồi làm trạm bơm điện phải mua nơi khác để ở. Qua bao năm ông bị xí nghiệp tính số nợ 73,8 triệu đồng. Nhìn quanh đồng lúa xanh tốt ông thở dài tiếc nuối: “Phải chi ngày đó đừng có cái dự án này thì trên 500 hộ chúng tôi đâu đến nỗi...”.
Khu vui chơi bỏ hoang!
Toàn tỉnh Tiền Giang hiện có 11 khu vui chơi trẻ em ở cấp xã và tám khu do huyện quản lý. Theo Ủy ban Dân số gia đình và trẻ em (UBDSGĐ&TE) Tiền Giang, các khu vui chơi dành cho trẻ em bắt đầu mọc lên từ năm 1999 đến nay. Hầu hết khu vui chơi trẻ em đều do tỉnh đầu tư xây dựng và do Quĩ Bảo trợ trẻ em VN hỗ trợ một phần. Kinh phí xây dựng một khu vui chơi cấp xã là 100 triệu đồng, khu vui chơi cấp huyện lên đến vài trăm triệu đồng.
Các địa phương gửi công văn xin bằng được với hàng tá lý do “chính đáng”: nào là tạo điều kiện chăm sóc, giáo dục trẻ em địa phương; nào là ở vùng sâu, vùng xa... Nhiều xã gửi lên UBDSGĐ&TE hai ba công văn xin, sau đó UBND huyện cũng gửi thêm công văn “thúc”. Xét thấy việc đề nghị của các địa phương hợp lý, UBDSGĐ&TE đã đề nghị UBND tỉnh cấp kinh phí xây dựng các khu vui chơi trẻ em.
Có điều chỉ thấy hoạt động đâu năm ba ngày, có nơi hoạt động được chừng tháng rồi... cho nghỉ luôn. Ngày 21-10, chúng tôi đến khu vui chơi trẻ em xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây và thật xót xa khi nhìn thấy ngổn ngang những đống sắt vụn và cỏ mọc um tùm. Người dân địa phương cho biết khi chuẩn bị lên xã văn hóa, người ta đã đưa về đây các loại đồ chơi trị giá 100 triệu đồng lắp đặt vội vàng.
Khi làm lễ ra mắt xã văn hóa xong, trẻ em không vào chơi nữa, các loại đồ chơi vì thế phải gồng mình phơi nắng phơi mưa hơn một năm nay. Nhiều loại đồ chơi bằng sắt đã gỉ sét, mục nát. Cùng số phận với khu vui chơi trẻ em Bình Nhì còn có các khu vui chơi ở thị trấn Mỹ Phước (huyện Tân Phước), xã Mỹ Hội, Tân Thanh (huyện Cái Bè), thị trấn Cai Lậy (huyện Cai Lậy), xã Thới Sơn (huyện Châu Thành), xã Đạo Thạnh (thành phố Mỹ Tho)...
Vì sao các khu vui chơi này bị bỏ hoang như vậy? Bà Nguyễn Thị Nguyệt, phó chủ nhiệm UBDSGĐ&TE Tiền Giang, bức xúc: “Khi xin đầu tư thì các địa phương cố gắng xin bằng được, nhưng đầu tư rồi thì không tổ chức quản lý, vận hành, cứ bỏ đó không hư sao được. Rồi địa phương không đầu tư thêm các loại hình trò chơi nên trẻ con cũng chán...”. Trong 11 khu vui chơi cấp xã hiện chỉ còn một hai khu hoạt động cầm chừng và... cũng sắp chết!
Mặc dù mấy tỉ đồng đầu tư vào khu vui chơi trẻ em đã trở thành... rác công nghiệp như vậy, nhưng thời gian qua các địa phương vẫn tiếp tục gửi công văn về UBDSGĐ&TE Tiền Giang xin đầu tư nữa. Bà Nguyễn Thị Nguyệt than thở: “Trong tay tôi có khoảng 10 công văn của các địa phương xin đầu tư khu vui chơi trẻ em. Nhưng nói thật tình là chúng tôi không dám đề nghị UBND tỉnh cấp kinh phí, dù rằng tỉnh rất lo cho trẻ em, bởi vì những khu đã đầu tư hoạt động không hiệu quả”.
VÂN TRƯỜNG - CHÂU ĐỐC
|
Công trình thủy lợi 3-2 với tổng vốn đầu tư trên 56, 97 tỉ đồng từ ngân sách T.Ư và ngân sách tỉnh nhằm phục vụ tưới tiêu 2.000ha đất canh tác chủ yếu ở xã An Cư, một phần của hai xã Vĩnh Trung, Văn Giáo (huyện Tịnh Biên, An Giang) được đưa vào hoạt động từ năm 2000, gồm các hạng mục: tuyến kênh tạo nguồn nước từ kênh Vĩnh Tế về trạm bơm cấp I dài 5km, tuyến mương nổi 12.937m, trạm bơm 12 tổ máy... Công trình này nhằm phục vụ sản xuất, góp phần tăng hệ số sử dụng đất, nâng cao thu nhập cho vùng có 95% đồng bào Khơme sinh sống, nhưng mục tiêu này chưa thực hiện được vì không đảm bảo việc tưới tiêu. Địa bàn rộng có địa hình cao thấp không đều, diện tích canh tác từng hộ từng thửa nhỏ lẻ với 2-3 công đất pha cát bạc màu cho năng suất thấp trong khi thiết kế công trình lại chưa thích ứng, như nhiều chỗ có cao trình bơm tưới từ +4 đến +7, thậm chí +15 nên lịch bơm nước không thể chủ động, rất khó phân bổ nguồn nước cho từng nơi cao thấp (có lịch xuống giống, thời vụ khác nhau và chi phí phát sinh quá cao). Ngoài ra, đầu tư thủy lợi song những giải pháp đồng bộ khác như tổ chức lại sản xuất, chuyển dịch cơ cấu chưa thực hiện đồng bộ khiến công trình chưa thể phát huy tác dụng. Một cán bộ trạm bơm bức xúc: “Không điện, không nước nên vào mùa mưa tuyến mương nổi vốn kết cấu bằng từng lòng máng bêtông mỏng kết nối nhau bị đẩy lên. Phải mất nhiều công sức, chi phí xử lý gia cố lại”. C.Đ. |
____________
Kỳ tới: “Đại” lãng phí từ những cảng cá