Phóng to |
| Đại lộ Nguyễn Văn Linh khánh thành ngày 30-12-2007, công trình dài 17,8km, rộng 120m, cho 10 làn xe lưu thông. Đây là công trình làm “sống dậy” hơn 2.600ha đất đầm lầy - Ảnh: MINH ĐỨC |
Trong bối cảnh đó, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền thành phố đã đề ra và thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách, giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn để khắc phục khó khăn; cùng với sự nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị và nhân dân thành phố đã phấn đấu hoàn thành cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.
PHẦN THỨ NHẤT
I. Về thành tựu
1. Kinh tế trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều phát triển, góp phần cùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Trong 2 năm đầu nhiệm kỳ (2006-2007), kinh tế thành phố tăng trưởng vượt chỉ tiêu nghị quyết (tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm 12% trở lên) đề ra; từ cuối năm 2007, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố giảm (năm 2006: 12,2%; năm 2007: 12,6%; năm 2008: 10,7%; năm 2009: 8,5%; năm 2010: ước trên 11%), ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm chỉ đạt 11%, thấp hơn chỉ tiêu đề ra nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung. Quy mô kinh tế thành phố đến năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD, bằng 1,68 lần năm 2005 (1.660 USD).
Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu đạt kết quả tích cực, từng bước tạo chuyển biến về chất trong cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỉ trọng các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ cao (tỉ trọng các ngành dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp trong GDP thành phố: năm 2005 là 50,6% - 48,2% - 1,2%; dự kiến năm 2010 là 54,5% - 44,3% - 1,2%).
Các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung; trong đó các ngành dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, chất lượng cao, giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, bưu chính - viễn thông, vận tải - cảng - kho bãi, khoa học - công nghệ, giáo dục và y tế chất lượng cao tiếp tục phát triển mạnh; giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 bằng 1,85 lần giai đoạn 2001 - 2005; 4 ngành công nghiệp trọng yếu: cơ khí chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, hóa chất, chế biến tinh lương thực, thực phẩm chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong giá trị sản xuất công nghiệp (năm 2005: 53%; năm 2010: 61%).
Nông nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng nông nghiệp đô thị, sản xuất giống cây, giống con và các sản phẩm có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Doanh thu bình quân 1ha đất nông nghiệp năm 2009 đạt 138,5 triệu đồng/năm, bằng 2,2 lần năm 2005.
Nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng khẳng định sức sống mạnh mẽ. Qua sắp xếp, đổi mới, tuy số lượng và tỉ trọng đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước trong cơ cấu kinh tế thành phố giảm nhưng quy mô và hiệu quả tăng lên; phát huy được vai trò dẫn dắt thị trường trong việc ổn định sản xuất, phát triển thị trường nội địa, bình ổn thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu.
Khu vực kinh tế tập thể phát triển ngày càng đa dạng các hình thức tổ chức và hoạt động, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ phục vụ nông nghiệp và thương mại. Kinh tế tư nhân ngày càng phát triển nhanh, cả loại hình doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và các cơ sở kinh doanh cá thể, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và thu ngân sách.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang chuyển dần sang các ngành thâm dụng vốn và khoa học - công nghệ, từng bước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường, đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký 5 năm 2006-2010 gấp 5,2 lần 5 năm 2001-2005).
Tổng vốn đầu tư xã hội tiếp tục tăng cao (giai đoạn 2006-2010 gấp 3 lần giai đoạn 2001-2005, tăng bình quân 24,6%/năm), đa dạng hóa các hình thức huy động với việc phát huy vai trò “vốn mồi” của Nhà nước. Thu ngân sách tăng cao (2006-2010 gấp 2,5 lần giai đoạn 2001-2005), hằng năm đều vượt chỉ tiêu nộp ngân sách do trung ương giao, đóng góp trên 30% ngân sách quốc gia.
Năm loại thị trường (hàng hóa và dịch vụ, tài chính, công nghệ, bất động sản, lao động) phát triển khá nhanh, góp phần huy động vốn cho đầu tư; nâng cao tiềm lực, thúc đẩy sáng chế, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ; phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu; giải quyết việc làm. Kinh tế đối ngoại tiếp tục được mở rộng trên cả ba lĩnh vực xuất nhập khẩu (trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái, xuất khẩu trừ dầu thô tăng bình quân 15,7%/năm, vượt kế hoạch 15%/năm), FDI và nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA) là nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế thành phố tăng trưởng.
Môi trường kinh doanh và đầu tư tiếp tục được cải thiện qua những tiến bộ trong cải cách hành chính và các chính sách ưu đãi đầu tư lĩnh vực công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường... từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; mở rộng quan hệ hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh, thành phố; vị trí, vai trò của thành phố đối với khu vực và cả nước theo Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP.HCM và Nghị quyết số 53-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ngày càng được khẳng định trên nhiều lĩnh vực: đóng góp vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế; thu ngân sách nhà nước; kim ngạch xuất khẩu; tổng mức luân chuyển hàng hóa; huy động vốn đầu tư; dịch vụ, du lịch, khoa học - công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực.
2. Quản lý và phát triển đô thị đạt một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại
Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch (quy hoạch thành phố gắn với quy hoạch vùng; quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thi quy hoạch - kiến trúc, thiết kế đô thị; thuê tư vấn quốc tế lập đồ án quy hoạch).
Trên cơ sở quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM, thành phố đã xây dựng và được Chính phủ phê duyệt, đang triển khai thực hiện đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP.HCM đến năm 2025, xây dựng quy định quản lý kiến trúc đô thị... là cơ sở để tiến hành đồng bộ các giải pháp xử lý căn cơ kết cấu hạ tầng đô thị về giao thông, cấp nước, thoát nước, cải thiện môi trường; bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu dân cư; chủ động phối hợp với các bộ, ngành trung ương tiến hành di dời, phát triển hệ thống cảng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm trong quản lý quy hoạch.
Việc phát triển các khu đô thị mới được tiến hành đồng thời với chỉnh trang đô thị hiện hữu; từng bước điều chỉnh tập quán cư trú nhà phố sang các chung cư cao tầng, tái bố trí dân cư và mở rộng không gian đô thị. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, đưa vào sử dụng nhiều công trình giao thông, cấp nước, thoát nước, môi trường.
Các chương trình sửa chữa, nâng cấp và xây mới chung cư hết hạn sử dụng, chương trình nhà ở xã hội, chương trình xây dựng 1 triệu m2 nhà lưu trú của công nhân, chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên, gắn với đầu tư phát triển dịch vụ đô thị (cấp điện, nước sạch, viễn thông, xử lý rác...) đã góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở của nhân dân, công nhân, sinh viên; khẩn trương chuẩn bị khởi công các dự án xây dựng hệ thống đường sắt đô thị (tuyến metro số 1, tramway, monorail...).
Công tác quản lý, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường được chú trọng và có tiến bộ. Tập trung quy hoạch tổng thể tài nguyên nước đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 và quy hoạch tổng thể quản lý chất thải nguy hại. Gắn nội dung bảo vệ môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư.
Triển khai các dự án thoát nước, xử lý chất thải nguy hại; hoàn thành cơ bản việc di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm môi trường vào khu quy hoạch; chủ động phối hợp với các tỉnh liên quan xây dựng và triển khai đề án bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai để ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước, đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt và sản xuất - kinh doanh.
Tập trung nguồn lực thực hiện 12 chương trình, công trình trọng điểm và 5 chương trình, công trình mang tính đòn bẩy do nghị quyết đại hội đảng bộ thành phố đề ra; đến nay đã phát huy tác dụng trên các lĩnh vực đời sống, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất lượng sống cho nhân dân.
3. Giáo dục - đào tạo có chuyển biến tích cực; chương trình xây dựng nguồn nhân lực được đẩy mạnh; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ góp phần thiết thực hơn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội; lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện
Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục thường xuyên, quy hoạch xây dựng khu đại học tây bắc và đông bắc thành phố. Tăng cường các giải pháp chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chú trọng biểu dương, nhân rộng các điển hình về đổi mới phương pháp dạy và học; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; phát huy vai trò của hội khuyến học trong phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; phổ cập ngoại ngữ, tin học cho học sinh phổ thông.
Quy mô đào tạo các cấp học (mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học) tăng lên; giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề được mở rộng; chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông khá cao và ổn định; hoàn thành phổ cập bậc trung học, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí thành phố. Mạng lưới các trường chuyên nghiệp phát triển nhanh; cơ cấu ngành nghề và chương trình đào tạo ngày càng sát với nhu cầu xã hội; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt chỉ tiêu đề ra.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực bước đầu đạt kết quả tích cực trong việc đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực trọng yếu, nhất là chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị, đào tạo công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý và doanh nghiệp.
Khoa học - công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn được quan tâm đầu tư và phát huy hiệu quả; việc gắn kết khoa học với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tốt hơn, tỉ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống tăng lên; việc tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ tiên tiến có tiến bộ; thị trường công nghệ ngày càng được mở rộng, sự liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, các trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước được tăng cường; vai trò nghiên cứu, tư vấn, phản biện xã hội của Liên hiệp các Hội khoa học - kỹ thuật thành phố và đội ngũ trí thức được phát huy, góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chủ trương, chính sách và giải pháp quản lý phục vụ mục tiêu phát triển.
Việc xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp công nghệ cao, Viện Khoa học công nghệ tính toán, Trung tâm công nghệ sinh học, Phòng thí nghiệm tế bào gốc, Công viên phần mềm Quang Trung, Trung tâm thiết kế chế tạo thiết bị mới, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia...), gắn với đề án đổi mới cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng lực lượng khoa học - công nghệ thành phố và người Việt Nam ở nước ngoài bước đầu đạt kết quả tích cực trong việc thu hút nguồn lực khoa học - công nghệ phát triển thành phố.
Đời sống văn hóa của nhân dân thành phố ngày càng được nâng lên, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của con người thành phố được tiếp tục khơi dậy, phát huy. Các thiết chế, công trình văn hóa được tăng cường đầu tư, nâng cấp; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao. Gắn cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, “nếp sống văn minh đô thị”, tạo chuyển biến khá tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội trong thực hiện nếp sống văn minh, từng bước đẩy lùi hủ tục, mê tín dị đoan trong cộng đồng.
Hoạt động kỷ niệm các sự kiện chính trị quan trọng, các phong trào thi đua yêu nước đã góp phần giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng, tạo động lực để nhân dân tích cực thực hiện mục tiêu xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phố.
Văn học - nghệ thuật có phát triển, góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc của dân tộc, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Báo chí - xuất bản đóng góp tích cực trong việc thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, các vấn đề xã hội quan tâm, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, tham gia phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong xã hội.
Thể dục thể thao được chú trọng đầu tư và mở rộng theo hướng xã hội hóa để phát triển cơ sở vật chất cho ngành, đáp ứng yêu cầu đào tạo và tổ chức thi đấu, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của thể thao đất nước. Phong trào thể dục - thể thao cộng đồng thông qua cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” ngày càng phát triển, góp phần nâng cao thể chất của nhân dân và xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh.
Hệ thống y tế được đầu tư phát triển; mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, nâng cấp với sự hỗ trợ chuyên môn của bệnh viện tuyến trên và các cơ sở đông y; các bệnh viện chuyên khoa, đa khoa được đầu tư, nâng cao chất lượng điều trị; các loại hình dịch vụ y tế phát triển đa dạng, nhiều công nghệ y học mới được nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả; cơ bản đáp ứng việc khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được mở rộng; các dịch bệnh nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi; các cơ sở sản xuất dược phẩm được đầu tư thiết bị hiện đại, cung ứng tốt hơn thuốc điều trị bệnh.
Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên, từng bước thực hiện các kỹ thuật cao trong điều trị ngang tầm các nước trong khu vực; số lượng bác sĩ, số giường bệnh ở các bệnh viện hằng năm đều tăng. Công tác thanh tra, giám sát an toàn thực phẩm được tăng cường. Các chính sách dân số, gia đình và trẻ em được chú trọng thực hiện đạt kết quả thiết thực. Tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, đạt chỉ tiêu đề ra. Chủ trương xã hội hóa các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển y tế đã góp phần nâng cao quy mô, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Các chương trình an sinh xã hội đạt kết quả tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Mục tiêu tạo việc làm mới hằng năm vượt chỉ tiêu đề ra, góp phần kéo giảm tỉ lệ thất nghiệp; giải quyết việc làm mới cho hơn 80% lao động mất việc do suy giảm kinh tế.
Chương trình giảm nghèo theo tiêu chí 6 triệu đồng/người/năm đã hoàn thành vào năm 2008, theo tiêu chí dưới 12 triệu đồng/người/năm (cả nội thành và ngoại thành) đến cuối tháng 6-2010 giảm còn 7,12%. Trong hơn 2 năm qua, bên cạnh việc giữ ổn định giá dịch vụ công, thành phố có chính sách hỗ trợ các hộ nghèo bị khó khăn do tác động của lạm phát; phong trào đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách với người có công và gia đình, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương tiếp tục được nhân rộng.
4. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, cải cách tư pháp có chuyển biến tích cực; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được tăng cường và mở rộng, tạo môi trường thuận lợi để phát triển thành phố
Nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của địa bàn trọng điểm về an ninh quốc phòng, thành phố kịp thời chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về quốc phòng - an ninh, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng quốc phòng - an ninh trong chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.
Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng lực lượng quân đội, công an, biên phòng thành phố trong sạch, vững mạnh; chăm lo xây dựng dân quân tự vệ, dân phòng, bảo vệ dân phố; bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; kiện toàn tổ chức bộ máy, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy đáp ứng yêu cầu công tác phòng chống cháy và cứu hộ cứu nạn trên địa bàn.
Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận an ninh nhân dân, triệt phá âm mưu phá hoại gây mất ổn định chính trị của các thế lực thù địch. Tăng cường chỉ đạo lập lại trật tự an toàn giao thông, chương trình mục tiêu 3 giảm, kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội; xử lý kịp thời các vụ tranh chấp lao động tập thể của công nhân; tập trung giải quyết các vụ khiếu kiện tồn đọng, chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là khiếu kiện đông người từ các tỉnh về thành phố, gắn với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước.
Cải cách tư pháp tiếp tục được tập trung thực hiện, tạo chuyển biến tích cực trong kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bố trí, luân chuyển cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất và chăm lo đời sống cán bộ tư pháp các cấp. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.
Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, tranh tụng tại phiên tòa, thi hành án ngày càng được nâng lên; tòa án nhân dân quận, huyện thực hiện khá tốt thẩm quyền được tăng thêm; việc đề cao vai trò luật sư trong tố tụng bước đầu có kết quả; khắc phục được tình trạng truy tố, xét xử oan sai, hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm, giảm khá nhiều vụ án và thi hành án dân sự tồn đọng, kéo dài, thí điểm tổ chức thừa phát lại, xã hội hóa hoạt động công chứng, kiện toàn các tổ chức giám định tư pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, tạo chuyển biến tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Với tư tưởng chủ động hội nhập và năng động, sáng tạo trong thực hiện, công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế mang lại hiệu quả tích cực, thể hiện sinh động quan điểm, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng.
Quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa thành phố với địa phương các nước được đẩy mạnh; phát huy vai trò đối ngoại nhân dân qua hoạt động hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, gắn với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác thông tin đối ngoại được tăng cường, góp phần quảng bá hình ảnh một thành phố năng động, sáng tạo, giàu tiềm năng hợp tác, có chính sách tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt kết quả thiết thực, giúp kiều bào hiểu rõ hơn tình hình đất nước và thành phố để tích cực tham gia xây dựng quê hương, có điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống ở thành phố.
5. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường; hệ thống chính trị không ngừng được củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả
a. Quán triệt quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong nhiệm kỳ qua toàn Đảng bộ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tạo được kết quả bước đầu quan trọng.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được đổi mới và tập trung hơn. Việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được chú trọng; việc nghiên cứu, quán triệt gắn với xây dựng chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của trung ương được triển khai kịp thời, sát thực tiễn.
Công tác thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị được tăng cường; gắn việc nắm tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào về dân tộc, về Đảng, xây dựng đạo đức, lối sống, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Là Đảng bộ được trung ương chọn làm điểm chỉ đạo cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, qua gần 4 năm thực hiện cuộc vận động đã đi vào cuộc sống, tạo được kết quả bước đầu quan trọng trong nhận thức, hành động của toàn Đảng bộ và xã hội.
Phần lớn cán bộ, đảng viên tích cực học tập, nỗ lực làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Bác Hồ trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực; hầu hết cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành đều có chương trình, kế hoạch, nội dung rèn luyện, phấn đấu, báo cáo chi bộ, cấp ủy nơi mình công tác góp ý, tạo điều kiện thực hiện và định kỳ hằng năm kiểm điểm nội dung đăng ký rèn luyện trước chi bộ theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban chỉ đạo trung ương; đã xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương cần, kiệm, liêm, chính trong Đảng và xã hội, góp phần ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; xây dựng, nâng cao nền tảng tinh thần trong xã hội.
Việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng có chuyển biến tích cực, vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là tại phường - xã, thị trấn, được phát huy; công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng ở các lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn được chú trọng hơn.
Việc phân tích chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên hằng năm được cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ từng loại hình tổ chức cơ sở Đảng; kịp thời đề ra biện pháp khắc phục hạn chế, yếu kém, kéo giảm số cơ sở Đảng yếu kém, số đảng viên vi phạm tư cách, nâng tỉ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm; chất lượng sinh hoạt chi bộ, ý thức trách nhiệm xây dựng Đảng, tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên được nâng lên.
Công tác đảng viên được quan tâm chỉ đạo trên cả 3 mặt: phát triển, quản lý và nâng cao chất lượng; số lượng đảng viên mới kết nạp hằng năm đều tăng; xây dựng tổ chức Đảng, kết nạp đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bước đầu đạt một số kết quả thiết thực.
Công tác cán bộ được chú trọng. Việc quy hoạch cán bộ dài hạn gắn với chủ trương đào tạo, tăng cường cán bộ trẻ tuổi về cơ sở và bổ sung cán bộ trẻ tuổi vào cấp ủy đạt kết quả thiết thực. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với quy hoạch và yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng bước được mở rộng, bảo đảm yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.
Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với công tác cán bộ; việc phân cấp quản lý, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt, bố trí, điều động, thực hiện chính sách cán bộ được cụ thể hóa bằng quy định, quy chế thống nhất, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo chuyển biến tích cực. Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện đúng quy trình, quy định, bảo đảm tiêu chuẩn và phát huy tốt. Kịp thời thay thế số cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, bộ máy tổ chức, điều kiện hoạt động của ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục được củng cố, phát huy và thực hiện tốt công tác luân chuyển, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ kiểm tra các cấp.
Cùng với việc triển khai kịp thời các chủ trương, quy định, hướng dẫn của trung ương, Thành ủy đã ban hành quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Thành ủy với các cơ quan liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức Đảng hằng năm; trong đó chú trọng kiểm tra các lĩnh vực về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng đất đai, sử dụng ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công; tiếp nhận, quản lý, phân bổ tiền quyên góp khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ người nghèo, các hoạt động xã hội - từ thiện.
Xử lý nghiêm minh khuyết điểm, vi phạm của tổ chức Đảng, đảng viên. Công tác giám sát bước đầu đạt một số kết quả thiết thực, góp phần ngăn ngừa vi phạm của tổ chức Đảng, đảng viên.
Phương thức lãnh đạo của Thành ủy và các cấp ủy đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với những vấn đề trọng yếu, đồng thời phát huy trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo của các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Việc mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng được chú trọng.
Chủ trương thực hiện thí điểm bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn bước đầu phát huy vai trò người đứng đầu của tổ chức Đảng, cơ quan quản lý nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo và xử lý công việc kịp thời, hiệu quả.
b. Năng lực tổ chức thực hiện và hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền có chuyển biến tích cực. Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Hội đồng nhân dân thành phố, hội đồng nhân dân xã tiếp tục được đổi mới theo hướng cải tiến, nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp, tăng cường công tác giám sát theo chuyên đề, góp phần giải quyết kịp thời các vấn đề dư luận bức xúc, được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng.
Việc kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chính quyền được quan tâm thực hiện thường xuyên; gắn chỉ đạo thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân dân quận - huyện, phường với việc sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân; công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, kiến thức luật pháp, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức được tăng cường; công tác thanh tra công vụ, phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có chuyển biến tích cực; những vụ án nghiêm trọng được phát hiện, xử lý nghiêm minh.
Công tác cải cách hành chính về thủ tục, quản lý tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính theo chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn II (2007 - 2010) tiếp tục được đẩy mạnh; phát triển cơ chế “một cửa” thành “một cửa liên thông”; mở rộng phân cấp quản lý cho các sở - ngành, quận - huyện, khoán biên chế và kinh phí hành chính cho các đơn vị; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ hành chính công, góp phần giảm phiền hà cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân.
c. Việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Công tác vận động nhân dân được tập trung thông qua việc xây dựng, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo đảm vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức Đảng, cơ quan quản lý hành chính, cán bộ, đảng viên, công chức.
Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, chăm lo quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan tham mưu về công tác tôn giáo - dân tộc. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; tăng cường tổ chức tiếp xúc, đối thoại với các giới để nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, tôn trọng các loại ý kiến khác nhau, kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề bức xúc của các giới.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức, đa dạng hóa các hình thức tập hợp; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; các phong trào hành động cách mạng được tổ chức đều khắp, chất lượng được nâng lên.
Phát huy vai trò công đoàn trong tập hợp, giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, tay nghề và cải thiện đời sống công nhân, người lao động, từng bước xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; tăng cường chỉ đạo xây dựng giai cấp công nhân; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, phát triển đảng viên, đoàn viên trong doanh nghiệp.
Phát huy vai trò của hội nông dân trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ công nghệ, vốn sản xuất, tiêu thụ nông sản; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là 20 xã - phường nghèo, thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới tại 6 xã, cải thiện bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân. Chú trọng tạo điều kiện và môi trường cho đội ngũ trí thức hoạt động; phát huy vai trò tư vấn, giám định, phản biện xã hội của Liên hiệp các Hội khoa học - kỹ thuật thành phố, Liên hiệp các Hội văn học - nghệ thuật thành phố và đội ngũ trí thức trong tham gia xây dựng các chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm của thành phố.
Tạo môi trường để thanh niên học tập, sáng tạo, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành; chăm lo xây dựng Đoàn, Hội liên hiệp thanh niên, Hội sinh viên vững mạnh, phát huy vai trò Đoàn, Hội trong việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh và tổ chức phong trào hành động cách mạng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới trong xã hội; phát huy vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong tập hợp, giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
Phát huy vai trò của cựu chiến binh và cán bộ hưu trí tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và chăm lo đời sống của cựu chiến binh, cán bộ hưu trí. Thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi; phát huy vai trò gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi và vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con cháu.
Vai trò của Hiệp hội Doanh nghiệp và các hội ngành nghề được phát huy trong việc tập hợp doanh nhân, vận động doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển thành phố; hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Luôn quan tâm thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hóa cho đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Phát huy vai trò của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trong tuyên truyền, vận động kiều bào tham gia xây dựng thành phố và đất nước.
Kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII
|
STT<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />
|
Chỉ tiêu
|
Ðơn vị tính
|
Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ thành phố
|
Dự kiến 2010
|
Kết quả 5 năm 2006- 2010
|
Ðánh giá kết quả 5 nămso với KH
| |
|
Giai đoạn 2006-2010
|
Năm 2010
| ||||||
|
1 |
Mục tiêu tổng quát năm năm tới “Ðổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa...” |
Cơ bản hoàn thànhmục tiêu | |||||
|
2 |
Tốc độ tăng trưởng GDP |
%/năm |
12% trở lên |
11,5 |
11,1 |
Chưa đạt | |
|
3 |
Tốc độ ngành dịch vụ |
||||||

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận